Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2015

Điểm đến Istanbul

Bảo tàng quân sự Istanbul
Bảo tàng quân sự Istanbul được thiết kế để lưu giữ cả ngàn năm lịch sử quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ. Đây là một trong những bảo tàng quân sự hàng đầu trên thế giới. Bảo tàng quân sự Istanbul đang trưng bày một bộ sưu tập các vũ khí, đồng phục và nhiều công cụ được sử dụng trong quân đội qua các thời kỳ phát triển lịch sử của quân đội. Điểm nổi bật trong bộ sưu tập này là những trại phục dựng các chiến dịch lớn và tiêu chuẩn.
Vị trí
Bảo tàng quân sự Istanbul nằm trên đường Valikonagi Caddesi, khu Harbiye, thành phố Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ.

Đặc điểm
Bảo tàng quân sự ban đầu được mở ngay trong nhà thờ Saint Irene. Đến cuối năm 1950, bảo tàng được dời về trụ sở quân đội đầu tiên ở Cumhuriyet Caddesi, Harbiye, gần quảng trường Taksim ở Istanbul. Quận Harbiye khi đó vốn là nơi đặt học viện quân sự hoàng gia Ottoman và đến nay vẫn là một căn cứ quân sự quan trọng.
Từ năm 1993, bảo tàng và trung tâm văn hóa quân sự đã được cải tạo và mở cửa trở lại với thiết kế triển lãm hiện đại và thu hút hơn. Hiện trong 22 phòng trưng bày có 9.000 hiện vật từ thời Ottoman đến Chiến tranh thế giới thứ nhất, tổng cộng bảo tàng đang lưu trữ 50.000 hiện vật. Khu vực phía Đông của bảo tàng đang được dùng phục vụ các triển lãm ngắn, những cuộc hội họp và các hoạt động tương tự.
Bảo tàng trưng bày theo tiến trình lịch sử, tầng trệt là những vũ khí được sử dụng từ thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 17. Tầng thượng trưng bày hiện vật dùng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, trận Gallipoli và chiến tranh giành độc lập cho Thổ Nhĩ Kỳ. Bảo tàng cũng dành riêng một phòng giữ gìn các vật dụng của vua Ataturk, người đã từng học tập tại đây khi nơi này còn là học viện quân sự từ giữa 1899-1905. Khuôn viên bên ngoài là những pháo đài thời Ottoman, súng cối, đại bác, máy bay, trực thăng mà du khách có thể chụp hình và tìm hiểu thêm thông tin.
Vào mỗi buổi chiều, ban nhạc Janassary, dàn nhạc quân đội lâu đời nhất thế giới sẽ mặc trang phục truyền thống, vừa diễu hành vừa chơi nhạc bảo tàng. Người Ottoman là những người đầu tiên sử dụng nhạc công trong các chiến dịch quân sự và đưa âm nhạc hòa nhập vào cuộc sống và công việc của quân đội.
·         Giờ mở cửa: mở cửa hàng ngày cho du khách tham quan trừ thứ hai và thứ ba.

 Bể chứa nước ngầm Basilica Cistern
Istanbul huyền bí với những ngọn tháp và mái vòm trải trên đường chân trời, nhưng Basilica Cistern lại chứng minh sức hút bên dưới nền móng một đại thành phố. Một thời là nơi lưu trữ nước cho Đại Điện, bị lãng quên vào giữa thế kỷ 15 rồi trở thành bể ủ rác của người dân, Basilica Cistern nay đã là điểm tham quan không thể bỏ qua khi đến Istanbul.
Vị trí
Bể chứa nước ngầm Basilica Cistern nằm trong quận Şeftali, thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Basilica Cistern được gọi với nhiều tên như Cung điện nước, Cung điện bị đắm, thực chất là hệ thống bể chứa nước ngầm cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của người dân và dọn dẹp vệ sinh tại các giáo đường, đền đài.
Với chiều dài 143m, ngang 70m, chứa khoảng 80.000m3 nước, Basilica Cistern là bể ngầm trữ nước lớn nhất thành phố Istanbul. Trần của Basilica Cistern được chống đỡ bằng 336 cột đá cẩm thạch lớn trong không gian gần 1ha, tạo nên những mái vòm đẹp mắt như trong các giáo đường Châu Âu. Trong số những cây cột này, một vài cột có tượng đầu quỷ Medusa lộn ngược, nằm ở phía Tây Bắc.
Để có đường cho khách tham quan, một hệ thống bục gỗ đã được lắp trên một phần diện tích nước. Thỉnh thoảng, nơi đây là sân khấu của những buổi hòa nhạc cổ điển. Trong khu vực tham quan thường có nhạc du dương, ánh sáng nhẹ nhàng, và một quán cà phê bán đồ giải khát và trà theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ.
Nếu không phải là người Thổ Nhĩ Kỳ, khách tham quan nên chuẩn bị một khoản chi phí để vào cổng và dành ra 1 giờ đồng hồ để khám phá một vòng Basilica Cistern.
Lịch sử
Basilica Cistern được xây dựng vào năm 532, dưới thời Hoàng đế Justinian I của Byzantine. Thời điểm đó, Basilica Cistern được dùng lưu trữ nước cho Đại Điện. Sau khi thủ đô Constantinople rơi vào tay đế chế Ottoman năm 1453, hệ thống hầm chứa nước này đã bị lãng quên.
Đến năm 1545, trong cuộc đi tìm những tàn tích của đế chế Byzantine, nhà khảo cổ người Pháp Petrus Gyllius được nghe người dân địa phương kể rằng họ chỉ cần thả gầu xuống dưới tầng hầm nhà họ là đã có nước mát và trong,  Basilica Cistern tình cờ được phát hiện.
Khó lý giải vì sao sau lần phát hiện đó, công trình quy mô này lại trở thành bể ủ chứa rác của người dân thành phố. Mãi đến những năm 1955-1960, nhà chức trách mới cho sửa sang lại và mở cửa điểm du lịch vào năm 1987.

 

Cảng Sừng Vàng

Trải qua nhiều biến cố lịch sử, cảng Sừng Vàng với khung cảnh ấn tượng giờ đang là điểm thu hút du khách khi đến Istanbul. Trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, nơi này chỉ đơn thuần là một vịnh hay một cửa sông. Nhưng trong  tiếng Hy Lạp và tiếng Anh, vịnh biển lại được gắn cho cái tên Sừng Vàng.
Vị trí
Cảng Sừng Vàng nằm ngay cửa sông của sông Alibeyköy và sông Kağıthane, đổ vào biển Marmara tại eo biển Bosphorus.
Đặc điểm
Sừng Vàng là một vịnh nhỏ ngay eo biển Bosphorus, tạo thành một bán đảo biệt lập, ngăn cách Istanbul cổ với phần còn lại của thành phố, hình thành bến cảng tự nhiên che chở cho tàu thuyền các quốc gia cổ như Hy Lạp, La Mã, Byzantine, Ottoman trong hàng ngàn năm nay.
Ngay từ trong tên gọi, chữ Sừng đã nói lên được hình dáng của vịnh biển tự nhiên này. Các nhà lịch sử tin rằng từ Vàng được dùng để chỉ sự phồn thịnh mà cảng biển mang đến cho thành phố, một số khác lại cho rằng Vàng miêu tả ánh nắng hoàng hôn lấp lánh trên mặt biển.
Vịnh Sừng Vàng có chiều dài 7,5km, đoạn rộng nhất khoảng 750m, độ sâu tối đa là 35m. Hiện đã có 4 cầu treo bắt qua vịnh Sừng Vàng, cây cầu thứ năm đang được xây dựng để kết nối các tuyến tàu điện ngầm của Istanbul ở phía Bắc và phía Nam của vịnh.
Ngày nay, Vịnh Sừng Vàng có cư dân sinh sống ở dọc hai bờ, có cả những công viên nằm sát biển. Phòng thương mại của thành phố Istanbul cũng nằm dọc theo bờ biển cùng với nghĩa trang của người Do Thái, Hồi giáo, Kito giáo. 

Cầu Bosphorus
Sau khi được trang bị đèn led nhiều màu hoa văn độc đáo chiếu sáng buổi tối, cầu Bosphorus trở thành một điểm tham quan đẹp mắt ở Istanbul. Ít ai biết được ý tưởng bắt cầu qua eo biển Bosphorus có từ thời cổ đại khi Hoàng đế Darius I muốn mở đường cho hành trình chinh phục của mình.
Vị trí
Cầu Bosphorus nối Ortaköy bên bờ Châu Âu với Beylerbeyi bên bờ Châu Á, thuộc địa phận thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Cầu treo Bosphorus bắt qua eo biển cùng tên có chiều dài 1.510m, rộng 39m, khoảng cách giữa những nhịp chính là 1.074m, chiều cao thông thuyền là 64m. Khi hoàn thành vào năm 1973, cầu Bosphorus là cầu treo dài thứ tư thế giới. Hiện đây là cầu treo dài thứ 22 thế giới.
Cầu Bosphorus có 6 làn xe, cùng với 2 làn xe cho trường hợp khẩn cấp và vỉa hè hai bên. Các buổi sáng trong tuần, lưu lượng xe đi từ Châu Á sang Châu Âu khá đông nên 4 làn xe trên cầu dành cho hướng này, vào buổi tối, 4 làn xe lại được mở cho hướng lưu thông từ Châu Âu sang Châu Á.
Từ năm 2007, cầu Bosphorus được trang bị hệ thống đèn led đổi màu có hoa văn độc đáo, chiếu sáng cả cây cầu vào ban đêm.
Lịch sử
Ý tưởng bắt cầu qua eo biển Bosphurus có từ thời cổ đại. Khi đó Hoàng đế Darius I của Ba Tư muốn bắt cầu phao nối Châu Á với Châu Âu nhằm truy đuổi quân đội Scythia cũng như tạo đường cho quân của ông tiến vào Balkan áp đảo Macedon. Tuy vậy, phải đến năm 1900, dự án cầu bắt qua eo biển Bosphorus mới được công ty đường sắt Bosphorus đề xuất lên vua Sultan Abdul Hamid II của đế quốc Ottoman, trong dự án có bao gồm một đường sắt nối kết hai lục địa.
Khoảng 57 năm sau khi dự án được đề xuất, Thủ tướng Adnan Menderes có quyết định xây dựng cầu. Cầu Bosphorus do kỹ sư xây dựng người Anh, Gilbert Roberts và William Brown, người từng thiết kế cầu Humber, Severn, Forth Road, cầu cảng Auckland và cầu bắt qua sông Volta, thiết kế. Công trình khởi công vào tháng 2.1970 với sự chứng kiến của Tổng thống Cevdet Sunay và Thủ tướng Süleyman Demirel cùng 35 kỹ sư và 400 công nhân.
Sau 3 năm xây dựng, cầu Bosphorus hoàn thành ngay dịp kỷ niệm 50 năm thành lập nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, do Tổng thống Fahri Korutürk và Thủ tướng Naim Talu thông xe. Chi phí xây dựng cầu là 200 triệu USD thời điểm đó, tương đương 1,06 tỉ USD năm 2014. 

 

Chợ Grand Bazaar

Với 21 cánh cổng trổ ra 20 con đường, Grand Bazaar là một trong những khu chợ có mái che lớn nhất và lâu đời nhất thế giới.
Nếu không có chủ ý mua hàng, ghé thăm một vài trong số 3.000 cửa hàng trong chợ để hòa mình vào không khí đông đúc và sôi động của khu chợ Thổ Nhĩ Kỳ điển hình cũng là một ý tưởng không tồi. Bên cạnh các quầy hàng là những quán cà phê, nhà hàng phục vụ món trà đường và kẹo ngọt truyền thống của người Thổ.
Vị trí
Chợ Grand Bazaar nằm ở Thành phố Cũ, tại quận Fatih, thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Khoảng đầu thế kỷ 17, tổng số các cửa hàng trong Grand Bazaar đã lên tới khoảng 3.000 và 300 cửa hàng nằm ngay tại các han, là các khu nhà được thiết kế gồm những dãy nhà hai, ba tầng bao quanh một sân trong. Han là nơi chứa hàng hóa và cũng là nhà trọ của các thương gia, lữ khách.
Grand Bazaar có 21 cánh cổng trổ ra 60 đường phố có mái che. Dưới mái che là một mê cung đầy màu sắc của những món hàng như gạch men, gia vị, đồ gốm, đồ đồng, phụ kiện bằng da, trang phục múa bụng, đường ống và gạt tàn lẫn trong những món đồ hiếm và thảm thủ công sặc sỡ. Dạo bước đến Cevavir, tòa nhà lâu đời nhất ở chợ có thể thấy kiến trúc Ottoman cổ điển còn sót lại. Xưa kia, mỗi đường phố đại diện cho một loại nghề thủ công cụ thể, giờ tên đường vẫn còn giữ nhưng mặt hàng bày bán thì không hoàn toàn như trước.
Trong chợ sẽ không tìm thấy người nữ bán hàng nào vì theo truyền thống của người Thổ, chuyện bán hàng là của nam giới. Đừng ngại trả giá với những người bán hàng ăn nói có duyên và hết sức thuyết phục nếu muốn mua một món hàng nào đó.
Lịch sử
Grand Bazaar được xây dựng từ năm 1455, sau khi đế quốc Ottoman chinh phục thành Constantinople. Thời điểm đó, Sultan Mehmet II ra lệnh xây dựng một địa điểm đặc biệt dành riêng cho hoạt động giao dịch hàng dệt may.. Với sự lớn mạnh của đế chế Ottoman, Grand Bazaar đến đầu thế kỷ XVII đã trở thành trung tâm giao thương chính của vùng Địa Trung Hải. Không chỉ là chợ, Grand Bazaar đã phát triển thành một khu buôn bán sầm uất với các nhà trọ và dịch vụ đi kèm phục vụ các đoàn lữ hành, các thương gia lưu trú.

Cung điện Dolmabahçe
Sau khi hoàn thành vào giữa thế kỷ 17, cung điện thành nơi nghỉ dưỡng của gia tộc hoàng gia ở Istanbul, cũng là trung tâm của Đế quốc Ottoman đến năm 1922. Với chi phí tương đương 35 tấn vàng, 285 căn phòng và 40 hội trường trong cung điện Dolmabahce đã được xây dựng và bày trí sang trọng.
Vị trí
Cung điện Dolmabahçe cách trạm xe điện Kabatas 10 phút đi bộ dọc theo bờ biển, nằm trong thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Cung điện Dolmabahçe được Sultan Abdul Mejid I cho xây dựng từ năm 1843 với chi phí tương đương 35 tấn vàng. Sau khi hoàn thành, cung điện trở thành trung tâm chính của Đế quốc Ottoman từ năm 1856-1922.  Gia tộc hoàng gia đã rời Cung điện Topkapi thời Trung cổ để tới sống tại Cung điện Dolmabahçe sang trọng hơn.
Bên trong cung điện có 285 căn phòng và hơn 40 hội trường. Trong các khu nhà dành cho nam giới có những căn phòng trang trí tuyệt vời từng là nơi những quyết định quốc gia đại sự được đưa ra. Từ đây, tiếp tục di chuyển sẽ đến Haremlik, khu vực dùng làm phòng ngủ của Mustafa Kemal Atatürk, vị tổng thống đầu tiên của nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, và các khu nhà riêng của gia đình hoàng gia có những bồn tắm Hamam thiết kế đặc trưng kiểu Thổ.
Tổng thống Atatürk qua đời trong phòng ngủ lúc 9 giờ 5 phút một ngày năm 1938, và chiếc đồng hồ trong phòng hiện vẫn đang dừng ở thời điểm đặc biệt này. Phòng Đỏ, có những tấm thảm Hereke, là nơi vua Thổ Nhĩ Kỳ đón khách.  Giữa các căn phòng và các tầng có những cầu thang pha lê và đèn chùm Bohemia lớn có 75 bóng đèn, món quà của Nữ hoàng Victoria.
Bên ngoài cung điện, có thể chiêm ngưỡng tháp đồng hồ cuối thế kỷ 19 theo phong cách tân baroque. Đi qua Cổng Treasure ở mặt trước của tháp có thể thấy quảng trường dọc theo bờ biển của Eo biển Bosphorus và Nhà thờ Hồi giáo Dolmabahçe. 
·         Cung điện mở cửa hàng ngày trừ Thứ Hai và Thứ Năm, chỉ nhận tiền mặt tại phòng bán vé.

Cung điện Topkapi
Từng là nơi ở của các vị vua Ottoman suốt 400 năm, cung điện Topkapi giờ lưu giữ các thánh tích linh thiêng, hoạt động như một bảo tàng cho khách tham quan. Một thời gian dài là nơi ở của vua và hoàng tộc nên cung điện Topkapi luôn được trang hoàng lộng lẫy. Trước khi trở thành bảo tàng, phần hậu cung trong cung điện là nơi cấm chỉ với người ngoài, nay một phần hậu cung đã mở cửa cho khách tham quan.
Vị trí
Cung điện Topkapi nằm ở quận Sultanahmet, thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Với nhiều người, cung điện Topkapi là một kho tàng lịch sử đồ sộ, với một số khác đây lại là nơi ngắm cảnh tuyệt vời vì từ cung điện có thể nhìn xuống Golden Horn, một bến cảng tự nhiên tại Istanbul, eo biển Bosphorus và biển Marmara.
Cung điện có 4 cổng ngăn cách bởi 4 khoảng sân rộng và phần hậu cung, toàn bộ trải rộng trên diện tích 70ha, bao quanh bởi bức tường thành dài 5km. Theo từng thời trị vì, các vị vua đã phát triển cung điện mang dấu ấn riêng của mình.
Topkapi thường được ví như một thành phố thu nhỏ với giáo đường, bệnh viện, nhà bếp, tiệm bánh ngọt, cơ sở đúc tiền. Hiện nơi này còn lưu giữ một bộ sưu tập lớn những đồ sứ, áo choàng, vũ khí, các dụng cụ móc, áo giáp thời Ottoman thu nhỏ, những bản thảo của thuật viết chữ đẹp Hồi giáo, những bức tranh tường thời Ottoman và khoảng 12.000 vật dụng bằng gốm sứ Trung Quốc, Nhật Bản.
Trong cung điện có hậu cung, là không gian riêng dành cho hoàng gia sinh sống cùng các thê thiếp và người hầu. Theo truyền thống, hậu cung là địa điểm cấm người ngoài. Hiện du khách có thể tham quan một phần hậu cung, ngắm nhìn cơ ngơi 40 phòng dành cho hoàng thái hậu, các phòng tắm lớn, đại sảnh có mái vòm dành cho vua nghỉ ngơi lúc nhàn rỗi. Nhiều cô gái đẹp nhất nước được đưa đến hậu cung chờ làm vợ vua, nếu không được vua chọn làm vợ thì đến năm 25 tuổi sẽ được ban ngọc ngà châu báu và rời khỏi cung.
Thế kỷ 17, các vua Sultan bắt đầu xây cất cung điện Dolmabahçe với kiến trúc tân thời Âu Châu rồi dần dà dọn về đây làm việc, cung điện Topkapi bớt đi tầm quan trọng. Đến khi đế quốc Ottoman sụp đổ, Topkapi trở thành bảo tàng, mở cửa cho khách tham quan các ngày trong tuần trừ thứ ba. 


Đảo Hoàng Tử

Thu hút hàng ngàn khách tham quan từ khắp thế giới mỗi ngày, đảo Hoàng Tử từng là nơi nghỉ dưỡng mùa hè của vua chúa từ thời Byzantine và Ottoman. Đến thế kỷ 19, những chuyến phà nối Istanbul và đảo Hoàng Tử đã hoạt động thường xuyên. Xe ô tô không được phép lên đảo, phương tiện di chuyển chủ yếu trên đảo là xe đạp và xe ngựa.
Vị trí
Đảo Hoàng Tử nằm trong biển Marmara, phía Đông Nam Istanbul, là một trong 39 quận của thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Trên bản đồ, vị trí của quần đảo này có tên Kizil Adalar, Red Islands nhưng  khách tham quan vẫn quen gọi là đảo Hoàng Tử vì từ thời Byzantine và Ottoman, đây là nơi ưa thích và nghỉ dưỡng mùa hè của vua chúa và giới quý tộc.
Quần đảo được hợp thành từ 9 đảo lớn nhỏ, trong đó đảo lớn nhất là Buyukada, cũng là nơi khách tham quan thường ghé qua. Cư dân trên đảo chỉ vào khoảng 15.000 người, nhưng mỗi ngày có thể đếm được hơn 100.000 người, khách du lịch đến đảo vì hiếu kỳ, dân Istanbul ra đảo tìm phút thảnh thơi, xa nhịp sống hối hả đô thị.
Sự tĩnh lặng của đảo một phần là do lệnh cấm dùng xe ô tô, trên đảo chỉ có xe đạp và xe ngựa, vừa là phương tiện di chuyển chính vừa là dịch vụ du lịch độc đáo. Những con đường quanh co nghiêng nghiêng theo sườn đồi, lọt giữa những rừng thông xanh ngắt, những ngôi nhà gỗ, biệt thự cổ hoàng tộc từng nghỉ dưỡng, rất thích hợp cho những chuyến thong dong trên xe ngựa.
Du ngoạn đảo Hoàng Tử đẹp nhất là vào mùa xuân (tháng 4, 5) và mùa thu (tháng 9, 10) khi cả ngày tiết trời mát mẻ, hoa mimosa nở vàng khắp các con đường trên đảo. Mùa hè kéo dài từ tháng 6 đến cuối tháng 8 là lúc những đoàn khách từ khắp nơi đến đây nghỉ dưỡng, đắm mình trong ánh nắng ấm và sự thân thiện cảu người dân đảo. Mùa đông đến trên đảo từ tháng 11 đến hết tháng 3, những khu nghỉ dưỡng thưa khách tham quan, những con đường lát đá yên ắng, sương buông se se lạnh.
Hàng ngày, có 8 chuyến tàu khởi hành từ eo biển Golden Horn (bờ châu Âu) và bến cảng (bờ châu Á), đưa khách tham quan từ Istanbul sang đảo với chuyến hành trình kéo dài 1 giờ 40 phút . Phà dừng ở bốn hòn đảo chính, mỗi đảo cách nhau khoảng 15 phút đi phà. Lượt về thường dùng tàu cao tốc, mất khoảng 50 phút.

Đồi Camlica

Là nơi cao nhất thành phố Istanbul với khung cảnh thơ mộng, đồi Camlica đang là điểm đến thu hút cả du khách trong và ngoài nước Thổ Nhĩ Kỳ. Có địa hình cao, không khí trong lành, khung cảnh đẹp, đồi Camlica được nhiều người dân thành phố Istanbul chọn làm nơi dã ngoại những ngày nghỉ.
Vị trí
Đồi Camlica nằm ở  Üsküdar, thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Đồi Camlica cao 268m so với mặt nước biển. Trên đồi đặt 18 cột phát sóng truyền hình và truyền thanh của thành phố Istanbul. Từ khi mở cửa cho khách tham quan, hội đồng thành phố đã cho xây dựng một nhà hàng, xung quanh có nhiều quán café xinh xắn.
Đồi Camlica là địa điểm tổ chức dã ngoại ưa thích của người dân Istanbul. Khách du lịch trong và ngoài nước đều bị thu hút bởi vẻ đẹp của ngọn đồi xanh cây cỏ. Vẻ đẹp thơ mộng này từ lâu đã là nguồn cảm hứng sáng tác của các nhà thơ, nhạc sĩ.
Ở Thổ Nhĩ Kỳ còn có một đồi Camlica khác nhưng không cao bằng nên được phân biệt bằng tên đồi Camlica lớn và đồi Camlica nhỏ. Đứng trên đồi Camlica lớn có thể nhìn bao quát toàn cảnh thành phố Istanbul.

Giáo đường Hagia Sophia
Hagia Sophia từng là một nhà thờ, tiếp đó là thánh đường Byzantine, sau lại là giáo đường Hồi giáo và hiện là một bảo tàng ở thành phố Istanbul. Trong gần 500 năm, Hagia Sophia là giáo đường Hồi giáo chính của thành phố Istanbul, làm mẫu hình cho nhiều nhà thờ Hồi giáo Ottoman như Giáo đường Xanh, Giáo đường Şehzade, Süleymaniye, và Rüstem Pasha.
Vị trí
Giáo đường Hagia Sophia thuộc quận Fatih, thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Nhà thờ đầu tiên được người La Mã cho xây dựng và mở cửa vào năm 360 trước khi trở thành nơi thờ phụng Kitô giáo chính của Constantinople. Quân phiến loạn phá hủy nhà thờ hai lần, đến năm 532, nhà thờ mà du khách nhìn thấy ngày nay mới được xây dựng. Công trình do hai kiến trúc sư Isidore xứ Miletus và Anthemius xứ Tralles thiết kế, hoàn thành sau 6 năm, trở thành trung tâm Kito giáo chính thống phương Đông và là nhà thờ lớn nhất thế giới trong gần 1.000 năm, cho đến khi nhà thờ Seville Trung Cổ hoàn thành vào năm 1520.
Năm 1453, Đế quốc Ottoman nắm quyền kiểm soát Constantinople, Hagia Sophia trở thành một giáo đường Hồi giáo, các đặc điểm về Kitô giáo như chuông khánh, bàn thờ, tường tranh bị gỡ bỏ, nhiều phần nền khảm tranh mosaic bị trát vữa đè lên. Các chi tiết kiến trúc Hồi giáo như mihrab, minbar, và 4 minaret ở bên ngoài, được xây thêm. Một thời gian ngắn sau khi nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ ra đời, Constantinople đã trở thành Istanbul và giáo đường Hồi giáo bị đóng cửa. Hiện nơi này mở cửa cho du khách tham quan như một bảo tàng.
Hagia Sophia đặc biệt nổi tiếng vì bốn ngọn tháp hùng vĩ và mái vòm trung tâm hình bát úp rộng lớn. Bên trong hiện vẫn cón bức tranh ghép từ thế kỷ thứ 9, và các bức bích họa thế kỷ thứ 10 của Kitô giáo. Trong khi các mái vòm lại được trang trí bằng những câu kinh Qur’an của Hồi giáo.
Là kho tàng văn hóa hàng đầu của Istanbul, Hagia Sophia lúc nào cũng tấp nập những dòng người xếp hàng dài chờ vào tham quan. Nhưng thường du khách không phải chờ quá nửa giờ, thời gian đó lại có thể thưởng thức café ở các quán nước xung quanh. Hagia Sophia mở cửa tất cả các ngày trong tuần trừ thứ hai. Trong mùa hè, giáo đường này mở cửa lâu hơn để đón du khách. Vé vào cổng bán ở phòng vé của bảo tàng. Để hiểu hơn về các giá trị giáo dục và văn hóa của Hagia Sophia, có thể thuê một bộ hướng dẫn âm thanh trong bảo tàng.

Giáo đường Rüstem Pasha
Nằm ngay trung tâm khu chợ tại quận Fatih, giáo đường Rüstem Pasha gần 500 tuổi, như một viên ngọc ẩn giấu của Istanbul. Giữa nhiều thắng cảnh rộng lớn và ấn tượng của thành phố Istanbul, giáo đường Rüstem Pasha thường nằm ngoài tầm ngắm của hầu hết khách du lịch. Nhưng một khi đã đến đây, sẽ bị hút bởi vẻ đẹp cầu kỳ và yên tĩnh của công trình.

Vị trí
Giáo đường Rüstem Pasha nằm trên đường Rüstem Paşa Mh., khu Tahtakele, quận Fatih, thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Giáo đường Rüstem Pasha do kiến trúc sư Mimar Sinan, người phụng sự cho 3 đời vua Sultan thiết kế. Tên của giáo đường đặt theo tên của Đại tể tướng Rüstem Pasha, con rể của Süleyman Vĩ đại. Từng là một trong những người giàu có nhất đế chế, nhưng địa vị của Rüstem Pasha không thể so sánh với Sultan nên giáo đường Rüstem Pasha cũng nhỏ hơn và tọa lạc trong trung tâm của khu chợ dưới chân đồi trong khi giáo đường Suleymaniye nằm trên đồi.
Nhỏ hơn và nằm ở vị trí khuất hơn, chỉ có vài du khách tìm đến ngôi giáo đường này. Tuy vậy, vẻ đẹp cầu kỳ của những mảng ốp lát trang trí bên trong mới là kho tàng kiến trúc đáng giá của thành phố Istanbul. 
Giáo đường nằm trên một nền đất cao, nhìn ra quần  thể các cửa hàng, chợ gia vị (Spice Bazaar). Đi qua một khoảng sân rộng là vào bên trong giáo đường. Những ai thích chụp ảnh sẽ mê mải giáo đường vì nội thất phủ gạch iznik màu xanh, điểm xuyết chút đỏ và trắng tương phản với thảm màu da cam. Gạch ốp lát được dùng trong các thiết kế hoa lá và hình học, các cộc đá, cửa ra vào hình vòm lớn.
Công trình này vẫn đang hoạt động như một nhà thờ Hồi giáo, nên nếu không phải là một tín đồ Hồi giáo sẽ không thể vào giáo đường Rüstem Pasha trong năm buổi cầu nguyện hàng ngày và chiều thứ sáu.
Lịch sử
Sau khi Đại tể tướng qua đời năm 1561, giáo đường Rüstem Pasha được xây dựng để tưởng nhớ ông. Rüstem Pasha từng âm mưu với Roxelana, vợ của Süleyman, tố cáo hoàng tử Mustafa, dẫn đến cuộc hành quyết hoàng tử và cuộc soán ngôi sau đó của Selim.

Giáo đường Xanh
Công trình quy mô được xây dựng vào thế kỷ 17 nổi tiếng với biệt danh Giáo đường Xanh, gắn liền với sắc xanh của hàng ngàn viên gạch lát bên trong. Mở cửa cho khách vào tham quan, nhưng nơi này vẫn là một nơi thờ cúng. Người đến tham quan phải giữ yên lặng, để giày vào túi nhựa đặt sẵn ở lối vào, phụ nữ được yêu cầu che đầu bằng khăn choàng để ở cửa.
Vị trí
Giáo đường Xanh nằm cách ga xe điện Sultanahmet và ga tàu điện ngầm ở Thành phố Cũ một quãng ngắn đi bộ, thuộc địa phận thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Được xây dựng từ giữa giai đoạn năm 1609 và 1616 dưới thời vua Ahmed I của Đế quốc Ottoman (1453-1923), nhà thờ Hồi giáo Sultan Ahmed thường được biết đến với tên gọi Giáo đường Xanh, gắn liền với màu sắc rực rỡ của nội thất lát gạch.
Nổi bật ở đường chân trời của thành phố lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ, Giáo đường Xanh với thiết kế đồ sộ cả về quy mô lẫn phạm vi, có thể được nhìn thấy từ nhiều nơi trong thành phố. 
Đi bộ từ những con phố như Hippodrome, sẽ thấy sáu ngọn tháp cao và mái vòm bậc thang nhô cao ở trung tâm tòa nhà. Qua những bức tường đá bao quanh nhà thờ là vào đến khoảng sân mà trong những tháng chay Ramadan, luôn tấp nập sau khi mặt trời lặn. Bên trong nhà thờ có ngôi mộ của người sáng lập, một madrasah và một hospice. Madrasah đang được sử dụng làm trường thần học và nhà tế bần.
Nội thất bên trong vẫn là điểm nổi bật nhất của nhà thờ, trang trí với hơn 20.000 viên gạch men màu xanh có hình hoa tulip thiết kế theo 50 mẫu khác nhau. Sân thượng của công trình sơn màu xanh. Bao quanh các tầng mái là hàng trăm cửa sổ kính màu tán sắc ánh sáng mặt trời khi chiếu vào.
Mỗi ngày, Giáo đường có năm buổi cầu nguyện mà nếu không phải là tín đồ sẽ không được phép vào trong. Những đêm mùa hè, ở nhà thờ có những buổi thuyết trình về lịch sử và thi thoảng có chương trình biểu diễn ánh sáng đẹp mắt. 
Lịch sử
Ban đầu, Sultan Ahmed I cho xây dựng công trình này là để xoa dịu Allah sau những kết quả bất lợi trong cuộc chiến với Ba Tư. Tiền xây dựng nhà thờ được lấy từ ngân khố thay vì trả bằng chiến lợi phẩm của chính nhà vua như những vị vua trước, bởi Ahmed I không giành được bất kỳ chiến thắng đáng chú ý nào. Một năm sau khi nhà thờ hoàn thành, Sultan Ahmed I cũng qua đời.

Khu di sản Sultan Ahmet
Khu di sản Sultan Ahmet là khu phố cổ lưu giữ những giá trị văn hóa và lịch sử từ thời Byzantine và Ottoman, tập trung nhiều công trình nổi bật của thành phố Istanbul. Được Unesco công nhận là Di sản thế giới, khu di sản Sultan Ahmet là một trong những nơi du khách tìm đến đầu tiên khi đặt chân lên thành phố Istanbul. So với phần còn lại hiện đại của thành phố, khu di sản Sultan Ahmet lưu giữ những giá trị văn hóa và lịch sử của đế chế Byzantine và đế chế Ottoman từ hàng ngàn năm trước.
Vị trí
Khu di sản Sultan Ahmet nằm gọn trên bán đảo Sarayburnu, bao quanh bởi eo biển Bosphorus, cảng Sừng Vàng và biển Marmara.
Đặc điểm
Khu di sản Sultan Ahmet hay còn gọi là phố cổ Sultan Ahmet cũng chính là quận Sultan Ahmet của thành phố Istanbul. Với các địa điểm tham quan nằm liền kề nhau, du khách gần như không phải di chuyển nhiều cho chuyến hành trình khám phá tại đây. Những điểm nằm trong khu di sản Sultan Ahmet mà du khách có thể ghé thăm:
Giáo đường Blue Mosque hay còn gọi là giáo đường Xanh, có từ thế kỷ XVII và là nhà thờ Hồi giáo duy nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ chỉ có 6 cột. 
Cung điện Topkapi, nơi ở của các vị vua triều đại Ottoman trong suốt 400 năm với hàng trăm phòng rộng rãi, trang trí đẹp  mắt bằng ngọc, kim cương, minh chứng cho sự giàu có và hùng mạnh của đế chế Ottoman. 
Giáo đường Hagia Sophia được xây dựng thế kỷ VI, kiệt tác của thời kỳ Đông La Mã. Ban đầu nơi đây là nhà thời Thiên chúa giáo, đến năm 1453 sau khi bị đế chế Ottoman chinh phục, thì được chuyển thành nhà thờ Hồi giáo. 
Giáo đường Rüstem Paşa được xây dựng từ khoảng 500 năm trước để tưởng nhớ Đại tể tướng Rüstem Paşa, con rể của Süleyman Đại đế. Bên trong giáo đường ốp lát gạch tráng lệ.
Bể chứa nước ngầm Basilica Cistern lại là một công trình khá kỳ bí. Một thời là nơi lưu trữ nước cho Đại Điện, bị lãng quên vào giữa thế kỷ 15 rồi trở thành bể ủ rác của người dân, nay “cung điện bị đắm” này đã mở cửa như một điểm tham quan. 
Trường đua Hippodrome có sức chứa hơn 40.000 chỗ ngồi, nơi đổ máu của biết bao đấu sĩ trong các cuộc đua ngựa thời cổ đại. 
Chợ Grand Bazaar là chợ cổ và lớn nhất Istanbul với lịch sử hơn 500 năm và hơn 3.000 gian hàng khác nhau. Tại chợ bày bán đủ loại sản phẩm đặc trưng như trang sức, thảm, đồ da, quà lưu niệm... 



Pháo đài Rumeli
Vị trí xây dựng pháo đài Rumeli trước kia là pháo đài của người La Mã, nhà tù rồi sau đó là tu viện. Đến nay, Rumeli đã là bảo tàng cho khách đến tham quan. Ba tháp lớn trong pháo đài được đặt theo tên ba vị cận thần của Mehmed II là Sadrazam Çandarlı Halil Pasha, Zağanos Pasha, Sarıca Pasha sau khi họ lần lượt xây tòa tháp lớn ngay cạnh cổng, tháp phía Nam và tháp phía Bắc.
Vị trí
Pháo đài Rumeli nằm ở đường Yahya Kemal Cd, quận Sarıyer, trên một ngọn đồi bên bờ Châu Âu của eo biển Bosphprus, thành phố Istanbul.
Kiến trúc
Rumeli nằm ở điểm hẹp nhất trên eo biển Bosphorus, đối diện với pháo đài Anadoluhisarı bên bờ Anatolian. Vị trí đặt pháo đài Rumeli trước kia là một pháo đài La Mã, được Byzantine và Genoese sử dụng làm nhà tù, sau đó, một tu viện lại được xây dựng trên nền đất này.
Pháo đài này có 1 tháp nhỏ, 3 tháp chính và 13 tháp canh đặt dọc theo tường thành nối với các tháp chính. Có 1 tháp canh hình lăng kính tứ giác, 6 tháp canh hình lăng kính nhiều cạnh và 6 tháp canh hình trụ. Tháp chính ở phía Bắc ngày nay được gọi là tháp Fatih, có 9 tầng, cao 28m, tháp ở giữa cũng có 9 tầng cao 22m, còn tháp ở phía Nam chỉ có 8 tầng cao 21m. Mỗi tầng trong tháp chính được lót sàn gỗ và có một lò sưởi. Trong pháo đài có những ngôi nhà gỗ nhỏ và một nhà thờ dành cho binh lính nghỉ ngơi và cầu nguyện.
Lịch sử
Pháo đài Rumeli do vua Sultan Mehmed II của đế chế Ottoman xây dựng trước khi ông tiến hành chinh phục Constantinople. Mục đích của pháo đài là kiểm soát giao thông hàng hải ở eo biển Bosphorus và ngăn chặn đường tiếp viện từ các thuộc địa như Caffa, Sinop và Amasra qua Biển Đen cho Constantinople khi Mehmed II đang bao vây thành phố này năm 1453. Trong suốt cuộc chinh phục trước đó, Sultan Murad II đã gặp phải nhiều trở ngại do sự phong tỏa của hạm đội Byzantine ở eo biển Bosphorus.
Trong thời gian xây dựng pháo đài, đích thân Sultan thường xuyên đi kiểm tra. Với sự giúp sức của hàng ngàn thợ xây và công nhân, pháo đài hoàn thành trong thời gian kỷ lục là 4 tháng 16 ngày, bắt đầu từ ngày 15.4 đến 31.8.1452.
Sau khi Constantinople sụp đổ, pháo đài trở thành một trạm kiểm soát hải quan. Trong trận động đất năm 1509, một phần pháo đài bị phá nhưng nhanh chóng được trùng tu. Đến thế kỷ 17, chính quyền dùng nhà tù làm nơi giam giữ những tù nhân chiến tranh quốc tế. Pháo đài lại trải qua thêm một lần trùng tu sau trận hỏa hoạn năm 1746, phá hủy gần như toàn bộ những phần làm bằng gỗ trong hai tòa tháp chính.
Sau một thời gian bị bỏ bê trong thế kỷ 19, bên trong pháo đài có thêm một khu dân cư mới. Năm 1953, Tổng thống Celal Bayar ra lệnh di dời khu dân cư, tái thiết lại pháo đài. Từ năm 1960, Rumeli hoạt động như một bảo tàng với một sân khấu ngoài trời tổ chức các lễ hội âm nhạc trong suốt mấy tháng hè.
·         Pháo đài Rumeli mở cửa các ngày trong tuần cho khách tham quan trừ thứ tư từ 9 giờ sáng đến 16 giờ 30 phút chiều. 

Quảng trường Taksim
Tiền thân là nơi trung chuyển nước từ Bắc Istanbul đến các vùng khác trong thành phố, quảng trường Taksim giờ ngập tràn khách tham quan. Với mật độ những nhà hàng, quán rượu, khách sạn, cơ quan du lịch, khu mua sắm và các địa điểm tham quan dày đặc, quảng trường Taksim từ lâu đã được xem là trái tim của thành phố Istanbul hiện đại.
Vị trí
Quảng trường Taksim nằm ở phía cuối Đại lộ độc lập (Istiklal Caddesi) hướng Đông Bắc của quận Beyoglu, trung tâm thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Quảng trường này nằm ở phần Châu Âu của Istanbul, là nơi mua bán chính, nơi thăm quan du lịch, giải trí nổi tiếng với những nhà hàng, quán rượu, chuỗi thức ăn nhanh như Pizza Hut, McDonald, Burger King, Subway, các khách sạn tầm cỡ quốc tế như InterContinental, Ritz-Carlton, The Marmara và các cơ quan du lịch có thể hỗ trợ nhanh chóng cho du khách. Đây là trái tim của thành phố Istanbul hiện đại.
Quảng trường Taksim còn là nơi đầu mối của tất cả các tuyến giao thông trong thành phố, từ đó có thể bắt xe bus, tram hoặc subway đi đến khu phố cổ, ra biển Đen, đến các khu mua sắm, và các vùng khác của Thổ Nhĩ Kỳ.
Quảng trường Taksim hình thành từ những năm cuối 1800 trên phần đất mà trước đó là điểm tập trung các đường dẫn nước từ phía Bắc Istanbul rồi phân phối xuống các vùng khác của thành phố. Chính vì vậy, Taksim trong tiếng Thổ có nghĩa là “phân chia” hay “phân phối”. Ngoài ra, từ Taksim còn có thể được hiểu là một loại hình âm nhạc ngẫu hứng đặc biệt trong âm nhạc cổ điển Thổ Nhĩ Kỳ, hoạt động theo hệ thống Makam.
Quảng trường Taksim hiện là một địa điểm chuyên diễn ra các sự kiện công cộng như diễu hành, lễ mừng năm mới, các hoạt động xã hội.

Trường đua Hippodrome
Nếu vừa muốn tận hưởng khí hậu Địa Trung Hải của Istanbul vừa ngắm những tàn tích của Constantinople cổ, trường đua Hippodrome là một lựa chọn đúng đắn. Trường đua đồ sộ xưa nay chỉ còn vài dấu tích và trở thành công viên cảnh quan của thành phố. Tuy vậy, trong tiềm thức người dân Istanbul, đấy vẫn là một “sân ngựa”.
Vị trí
Trường đua Hippodrome nằm trên đường Atmeydani ở thành phố Istanbul.
Đặc điểm
Trường đua Hippodrome do hoàng đế La Mã Septime Sévèse xây dựng năm 203. Với sức chứa 40.000 chỗ ngồi, trường đua dài 400m, ngang 120m, từng là nơi đổ máu hàng ngàn đấu sĩ trong các trận đua ngựa thời cổ đại. Đây cũng là địa điểm tổ chức các phiên tòa, các cuộc diễu hành và lễ đăng quang của các hoàng đế dưới thời đế chế Byzantine.
Hippodrome giờ không còn là một trường đua mà là một công viên được người dân địa phương quen gọi là “Sân ngựa” (At Meydani). Men theo con đường vào đường đua xưa, nay đã được trải nhựa, sẽ nhìn thấy những di tích lâu đời nhất của Istanbul như cột tháp Ai Cập, cột Serpent.
Cột tháp Ai Cập hay còn gọi là Tháp kỷ niệm Theodosius được làm từ một tảng đá nguyên khối cao 40m ở Ai Cập cổ đại vào khoảng 1.500 năm trước công nguyên. Đến năm 390, Theodosius Đại đế đã lấy đem về Istanbul. Còn cột Serpent lại được người dân quen gọi là cột hình rắn, đúc bằng đồng cao 5m, có hình ba con rắn quấn vào nhau. Cột được người Hy Lạp dựng lên vào năm 480 trước công nguyên để kỷ niệm chiến thắng trước người Ba Tư. Sau này, khi Hoàng đế Constantine cải tạo Hippodrome trong kế hoạch mở rộng chung của thành phố, ngọn tháp bằng đồng đã được mang từ Delphi về và đặt ở trường đua.
TRAVELSHOPTURKEY

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét