Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Các địa danh nổi tiếng Thổ Nhĩ Kỳ

Bảo tàng Mevlana
Khối kiến trúc mái vòm, tháp nhọn hình nón nổi bật một màu ngọc lam giữa trung tâm thành phố là biểu tượng của Konya, cố đô của Thổ Nhĩ Kỳ vào thế kỷ 12, 13. Bảo tàng Mevlana còn gọi là Tu viện Mevlana, Lăng Tẩm Xanh, hay Mái Vòm Xanh. Nơi này là điện thờ tu sĩ, nhà thần học, nhà thơ, nhà hiền triết vĩ đại nhất nước Thổ, Mevlana Celaleddin Rumi . Bảo tàng tọa lạc trên đường Aslanlı Kışla Cd, quận Karatay, thành phố Konya, Thổ Nhĩ Kỳ.
Bảo tàng Mevlana xây dựng từ năm 1274, có kiến trúc kiểu Seljuk với mái vòm đặt trên các cột trụ và một chóp hình nón được bao phủ màu ngọc lam. Qua khỏi cửa chính là khoảnh sân lát đá cẩm thạch. Bên trong có phòng trưng bày các vật dụng Mevlana từng sử dụng như quần áo, thảm cầu nguyện, chiếc mũ nâu đã sờn… Đặc biệt là bộ râu của ông được lưu giữ cẩn thận trong một chiếc hộp kim loại đặt trong lồng kính, nhiều phụ nữ Hồi giáo thường dựa đầu vào đây để cầu xin sự che chở.
Các tác phẩm nghệ thuật, hội hoại, thư pháp… trang trí bảo tàng phần lớn là tặng phẩm của những người yêu mến Mevlana. Khắp trên tường là các bức tranh mang đậm chất tượng hình miêu tả sinh động, chân thật về cuộc đời của Mevlana. Ngôi mộ của Mevlana nằm dưới mái vòm màu xanh, được bài trí trang trọng, bao phủ gấm thêu kim tuyến, thêu vàng các bài thơ trong kinh Koran, trang trí hình khắc nổi tráng men. Nhưng thực ra, mộ thật nằm bên dưới lòng đất, bởi trên bia còn ghi lại rằng “Đừng tìm mộ của chúng tôi trên thế gian này, vì mộ chúng tôi nằm ở trung tâm của người khai ngộ”. Bên cạnh là mộ của cha và các thành viên trong gia đình Mevlana.
Sảnh đường là nơi tổ chức nghi lễ Sema với các nghi thức và điệu vũ trong âm nhạc rộn rã của kèn, trống… Nghi lễ Sema nổi tiếng với điệu múa Sema tuy đơn giản nhưng ẩn chứa những thông điệp sâu xa. Điệu múa Sema là một điệu múa xoay tròn hướng vào trong với hai tay giơ cao, để tưởng nhớ đấng tối cao, đưa người tu sĩ tiến gần đến và hội ngộ với đấng tối cao. Điệu múa đã được Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại vào năm 2008.
Năm 1274, học trò Husamettin Celebi xây dựng lăng mộ cho Mevlana. Những năm sau đó, lăng mộ được mở rộng, và tăng thêm phần trang trí nội thất. Đến năm 1927, lăng mộ trở thành bảo tàng về Mevlana, và mở cửa đón khách tham quan, chủ yếu là các tín đồ Hồi giáo hành hương.

Bảo tàng Karatay Medrese
Xây dựng từ năm 1251, bảo tàng Karatay Medrese chính là bộ sưu tập độc đáo của nghệ thuật gốm sứ Thổ Nhĩ Kỳ thời kỳ đầu. Bảo tàng Karatay Medrese nằm ở phía Bắc công viên Alaaddin, trên đường Ankara Cd, Devri Cedid MH, thành phố Konya, nơi này từng là trường nội trú về tôn giáo của người Thổ vào cuối thế kỷ 19.
Được xây dựng năm 1251, dưới thời đại vua Sultan Keykavus II, bảo tàng Karatay Medrese là một công trình được hoàn thành bởi tể tướng của vua. Nơi này được trang trí các họa tiết, hoa văn khắc họa lại con người, loài vật và cuộc sống thưở xưa của người Thổ. Các hiện vật hiện được bảo tàng lưu giữ chủ yếu của thời kỳ nghệ thuật gốm sứ Seljuk và Ottoman như tô, chén, bình... Mặc dù rất ít trong số hiện vật này còn nguyên vẹn, nhưng chúng cũng phần nào tái hiện cuộc sống và nếp sinh hoạt của người Thổ xưa.
Đặc biệt, bảo tàng trưng bày những tàn tích còn sót lại của cung điện Kubadabad xây dựng từ thế kỷ 13. Năm 1960, cung điện được khai quật bên bờ hồ Beysehir, các vết tích còn lại bao gồm đồ trang trí bằng thạch cao, nến, đồ gốm không tráng men…

Lăng và bảo tàng Ataturk
Là thủ đô của Thổ Nhĩ Kỳ, Ankara có rất nhiều bảo tàng nằm trên bản đồ du lịch. Nhưng đến Ankara, không nên bỏ qua không gian lịch sử lăng và bảo tàng Ataturk bên trong khối kiến trúc đặc trưng Anatolia. Lăng và bảo tàng Ataturk được hàng triệu người dùng trên mạng du lịch TripAdvisor bình chọn là một trong 10 điểm đáng đến nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 2013. Lăng và bảo tàng Ataturk nằm ở phía Tây trung tâm thủ đô Ankara.
Tọa lạc trên một ngọn đồi hùng vĩ ở một góc Anıttepe là lăng của Kemal Ataturk, người đã lập ra nền cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. Hoàn thành năm 1953, đây là một công trình ấn tượng vừa mang lối kiến trúc cổ kính vừa hiện đại, không pha lẫn với bất kỳ lăng tẩm nào ở Ankara.
Trong khu lăng tẩm còn có bảo tàng trưng bày bức tượng bằng sáp lớn khắc họa chân dung của Ataturk, các văn bản, thư từ và nhiều vật dụng của Ataturk. Du khách còn có thể chiêm ngưỡng triển lãm tranh và video về những khoảnh khắc đáng nhớ trong cuộc đời vị lãnh tụ này từ khi thiết lập nền cộng hòa. Lăng mở cửa mỗi ngày cho khách tham quan trong khi bảo tàng đóng cửa vào ngày thứ hai và mở cửa các ngày còn lại trong tuần. Nếu đến đây vào mùa hè, sẽ có cơ hội xem các màn trình diễn nhạc nước vào các buổi tối.
Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Ataturk nổi tiếng vì sự thao lược. Sau khi Đế quốc Ottoman thất bại trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ông đã lãnh đạo Phong trào Dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ đấu tranh giành lại độc lập cho đất nước. Sau khi thành lập chính phủ lâm thời tại Ankara, ông đã đánh bại lực lượng Đồng Minh, nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ ra đời. Ataturk tiến hành một cuộc cải cách chính trị, kinh tế và văn hóa nhằm biến cựu Đế quốc Ottoman thành một nhà nước hiện đại mà thế giới vẫn gọi là Chủ nghĩa Kemal.
Có thể thấy tên tuổi và hình ảnh của Atatürk trên khắp Thổ Nhĩ Kỳ, từ công trình công cộng, trường học, sách giáo khoa đến tiền tệ. Ngày 10.11 hàng năm, vào chính xác thời điểm ông qua đời, gần như tất cả mọi người Thổ sẽ dừng mọi hoạt động, dành một phút tưởng niệm Ataturk. Tượng tưởng niệm ông được xây dựng khắp hầu hết các thành phố lớn của Thổ Nhĩ Kỳ, ở New Zealand, Úc, Rome…

Thành phố cổ Hierapolis
Người Hy Lạp cổ đại xây dựng thành phố Hierapolis bên cạnh những dòng suối khoáng nóng như một “bệnh viện” trị liệu và xoa dịu nỗi đau bệnh tật. Hierapolis theo tiếng Hy Lạp cổ đại có nghĩa là Thành phố Thần thánh, hay Thành phố thiêng liêng. Thành phố này từng đóng vai trò quan trọng về thương mại, giao lưu văn hóa giữa các vương triều Hy Lạp – La Mã cổ đại, nay hoang tàn với những dấu tích còn sót lại của đền đài, nhà tắm, nhà hát kiểu La Mã...
Nằm trong thung lũng sông Menderes, bên cạnh thị trấn Pamukkale, tỉnh Denizli, Thổ Nhĩ Kỳ, Thành phố Hierapolis được xây dựng vào thế kỷ thứ 2 TCN, trên đỉnh đồi đá vôi Pamukkale cao khoảng 160m hình thành từ sự phun trào của núi lửa và nứt gãy địa chất. Xung quanh khu vực Pamukkale có các dòng suối nước nóng với nhiệt độ dao động từ 350C đến 1000C, chứa các khoáng chất đặc biệt. Người Hy Lạp – La Mã cổ đại sử dụng các dòng suối khoáng nóng này như những spa thiên nhiên để chữa bệnh. Vì thế các công trình kiến trúc ở Hierapolis hầu hết đều phục vụ cho nhu cầu trị liệu, thư giãn.
Các con đường trong thành phố Hierapolis rộng chừng 3m. Ở hai đầu của con đường chính có hai cổng thành đồ sộ, hai bên là tháp vuông xây bằng các khối đá lớn. Gần cửa ngõ phía Bắc thành phố còn có cổng thành Domititan gồm 3 cổng vòm, hai bên có tháp tròn được Thống đốc Frontinius xây dựng trong thế kỷ thứ 2 TCN. 
Những bức tường La Mã không còn nguyên vẹn, đền Apollon còn lại những đống cẩm thạch vỡ vụn, nằm ngổn ngang trên vùng đồi thoai thoải cỏ cây. Những khu phòng tắm, nghỉ ngơi dưỡng bệnh của các vị vua chúa, các nhà quý tộc giờ ngổn ngang đất đá, còn một số ít móng nền và một phần tường bao quanh.
Nhà hát lộ thiên kiểu Hy Lạp – La Mã có sức chứa đến 1.500 người được bảo tồn khá tốt. Nhà hát xây theo hình bán nguyệt, có các băng ghế đá xếp bậc thang từ thấp lên cao và chia thành hai phần ngăn cách nhau bởi một hành lang ngang. Chính giữa là sân khấu trang trí các bức tượng, phù điêu về các vị thần thánh, phía sau là hậu trường. 
Ở phía Bắc thành phố là nghĩa địa cổ đại trải dài đến 2km, với hơn 1.200 ngôi mộ cổ bằng đá có từ cuối thời kỳ Hy Lạp, La Mã. “Thành phố buồn” này là nơi yên nghỉ chủ yếu của những bệnh nhân đến Hierapolis trị bệnh và qua đời tại đây, trong đó có cả Hoàng đế Marcus Aurelius của đế chế La Mã. Bên trong mỗi nhà mồ thường có một buồng mộ và băng ghế. 
Từ khi thành lập, thành phố Hierapolis đã đóng vai trò là nơi trao đổi thương mại, giao lưu văn hóa tôn giáo giữa các vương triều. Nhưng Hierapolis dần mất đi vị trí quan trọng khi các trận động đất đã phá hủy dần các công trình kiến trúc. Vào khoảng thế kỷ 17, các trận động đất đã phá hủy và chôn vùi thành phố Hierapolis. Mãi rất lâu sau, thành phố cổ này mới được tìm thấy và mở cửa đón khách tham quan. 
Năm 1988, thành phố cổ Hierapolis được Unesco công nhận là di sản thế giới. Hình ảnh của Hierapolis đã được in trên đồng tiền xu của Thổ Nhĩ Kỳ. 

“Lâu đài bông” Pamukkale
Cả một vùng đồi Pamukkale trắng xóa với những chuỗi nhũ đá vôi xếp tầng tầng lớp lớp trên sườn đồi, lấp lánh ánh nước phản chiếu từ những khoanh hồ xanh lam, Pamukkale theo tiếng Thổ Nhĩ có nghĩa là lâu đài bông. Nơi này là một ngọn đồi nằm ở phía Tây Nam của Thổ Nhĩ Kỳ, được Unesco công nhận là một trong những di sản thiên nhiên của thế giới. Đồi Pamukkale nằm trong thung lũng sông Menderes, thuộc tỉnh Denizli, Thổ Nhĩ Kỳ. 
Pamukkale là một ngọn đồi đá vôi cao khoảng 160m so với mực nước biển. Trải đều trên chiều dài gần 3.000m từ đỉnh đồi xuống thị trấn Pamukkale là những “thửa ruộng bậc thang” đá vôi trắng xóa. Ngự trên mỗi hàng “ruộng” đá vôi là những khoanh hồ xanh lam, mực nước chỉ hơn nửa mét, phảng phất mùi lưu huỳnh, lấp lánh ánh nước phản chiếu dưới nắng vàng rực rỡ. Những thạch nhũ đá vôi ôm quanh sườn đồi tựa như những khối tuyết đóng băng. Khi tham quan “Lâu đài bông”, du khách phải bỏ giày dép ở phía ngoài và đi bộ tham quan. 
Quanh khu vực Pamukkale có khoảng 17 suối nước nóng với nhiệt độ dao động từ 350C đến 1000C, chứa các khoáng chất đặc biệt. Nhưng chỉ một số ít suối, hồ nước cho phép du khách tắm hoặc ngâm người chữa bệnh. Từ thế kỷ thứ 2 TCN, người Hy Lạp – La Mã cổ đại đã sử dụng các dòng suối khoáng nóng này cho quá trình điều trị bệnh. Chính vì thế, họ xây dựng thành phố Hierapolis trên đỉnh đồi Pamukkale như một “bệnh viện” trị liệu và làm dịu nỗi đau bệnh tật. Ngày nay, thành phố cổ này còn những tàn tích của các công trình kiến trúc từ thế kỷ thứ 2 TCN.
Đồi Pamukkale nằm ở vết đứt gãy giữa các mảng địa chất, nên sườn đồi là những bậc thềm nối tiếp. Hoạt động núi lửa diễn ra mạnh mẽ phía sâu dưới lòng đất đã tạo ra các hang động chứa đầy khí CO2. Khi các dòng suối nước nóng lượn lờ chảy qua các bậc thềm này gặp khí CO2 kết tủa thành đá vôi. Hàng triệu triệu năm trôi qua, phản ứng hóa học này đã hình thành mỗi chuỗi nhũ đá vôi trắng xóa muôn hình vạn trạng xếp tầng tầng lớp lớp trên sườn đồi Pamukkale. 

Thư viện Celsus
Là thư viện lớn thứ ba trong thế giới cổ đại, thư viện Celsus nằm ở vùng di chỉ Ephesus của Thổ Nhĩ Kỳ từng lưu giữ 12.000 cuốn sách quý, khối kiến trúc đồ sộ của thư viện Celsus là một món quà của con trai dành tặng cho cha mình là Quan Chấp Chính Tiberius Iulius Celsus Polemaeanus, một thành viên của Viện Nguyên Lão Hy Lạp cổ đại. Bên dưới lòng đất của thư viện có lăng mộ của ông nên nơi này còn được coi như một đền thờ. Công trình đã bị phá hủy bởi thiên nhiên, chiến tranh, và thời gian nhưng vẫn là một điểm du lịch đáng đến. Thư viện Celsus nay thuộc huyện Selcuk, tỉnh Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ, cách thành phố Kusadasi khoảng 15km về hướng Đông Bắc.
Thư viện Celsus được xây dựng vào khoảng năm 110, có cấu trúc đồ sộ và trang trí tinh xảo. Cổng là những thức cột Corinthian, trên đỉnh trang trí, điêu khắc tinh xảo hoa văn, dây leo. Từ cổng dẫn vào một khoảnh sân rộng 21m, lát đá cẩm thạch. Lối lên thư viện gồm 9 bậc đá cẩm thạch. Phía trước có bốn pho tượng của bốn vị thần biểu tượng cho trí tuệ, đức hạnh, thông minh, và học thức. 
Hai tầng của thư viện Celsus được thiết kế đẹp mắt và vô cùng độc đáo để bảo quản tốt nhất những cuốn sách cổ quý giá. Mái vòm chạm trổ họa tiết tinh xảo. Sàn nhà và các bức tường lát đá cẩm thạch. Để tạo hiệu quả về thị giác, các kiến trúc sư đã xây phần tường ở giữa cao hơn hai bên, làm tăng thêm chiều sâu và chiều cao khi nhìn từ dưới lên. 
Phòng chính của thư viện quay về hướng Đông để tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời vào buổi sáng. Bên trong phòng thiết kế hai lớp tường, mỗi lớp cách nhau bởi một hàng lang rộng 1m. Thiết kế này giúp 12.000 cuốn sách da và giấy cói tách biệt khỏi sự nóng ẩm của thời tiết cũng như nấm mốc, sâu bọ. Tầng hầm thư viện là lăng mộ của Thống đốc Châu Á thời La Mã cổ đại. Thư viện Celsus nay chỉ còn lại cổng vào, một phần mặt tiền và căn phòng chính. 
Con trai của Quan Chấp Chính Tiberius Iulius Celsus Polemaeanus xây dựng thư viện Celsus để làm quà tặng cho ông vào năm 110. Năm 262, toàn bộ nội thất bên trong thư viện bị thiêu rụi trong một cuộc xâm lược của người Goth. Đến thế kỷ 10, cấu trúc thư viện bị tác động mạnh bởi trận động đất lớn nên đã sập đổ ít nhiều. Mặt tiền của thư viện được phục chế trong những năm 1970 và tồn tại đến ngày nay.

Thành phố cổ Ephesus
Hành trình tham quan thành phố cổ Ephesus giống như một chuyến du hành ngược thời gian trở về thời cổ đại cách đây khoảng 3.000 năm. Ephesus là thành phố La Mã lớn thứ hai trong thời kỳ cổ đại, đóng vai trò quan trọng về kinh tế và văn hóa của người La Mã ở Châu Á. Thành phố cổ Ephesus nằm ở phía Tây Nam thị trấn Selcuk, huyện Selcuk, tỉnh Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ, cách trung tâm thị trấn khoảng 3km.
Cách đây khoảng 3.000 năm, dưới thời Alexander Đại đế, tướng quân Lysimakhos thiết lập thành phố cổ Ephesus. Thành phố này bị bỏ rơi vào thế kỷ 15 và mãi đến năm 1863, phế tích Ephesus mới được tìm thấy. Hàng loạt công trình cổ đại của Ephesus đã được khai quật trên con đường trải dài hơn 3km, gồm có cung điện, quảng trường, nhà hát, thư viện, sân vận động…
Đại lộ chính của Ephesus thênh thang với hai hàng cột cẩm thạch, dọc hai bên đường là các tòa nhà hội họp, bàn vấn đề quốc sự, một số vòi phun nước công cộng. Đền thờ Hadrian xây từ thế kỷ thứ 2 để thờ vị minh quân Hadrianus của Đế quốc La Mã. Năm 1863, ngôi đền được khai quật, sau đấy đền được phục dựng lại từ những mảnh vỡ đào được vào năm 2001 - 2009. 
Ở gần cuối đại lộ chính, cách đền thờ Hadrian khoảng 500m là khối kiến trúc đồ sộ thư viện cổ Celsus xây dựng vào khoảng năm 110, gồm hai tầng thiết kế đẹp mắt và độc đáo để bảo quản 12.000 cuốn sách quý. 
Gần thư viện Celsus có nhà hát ngoài trời hình bán nguyệt, có sức chứa đến 25.000 người. Mặt tiền nhà hát trang hoàng lộng lẫy với những hàng cột, hình đắp nổi, và các pho tượng. Khu vực này còn có quảng trường rộng lớn, nơi diễn ra cuộc sống hàng ngày. Có nhà vệ sinh công cộng là những căn phòng không vách ngăn, hệ thống nước chảy bên dưới. Bên trong nhà vệ sinh có những băng ghế đá dài để dọc theo bờ tường, phía trên đục lỗ tròn để nhiều người cùng sử dụng.
Ven triền đồi có các ngôi nhà của người La Mã cổ đại. Đặc biệt có các ngôi nhà của giới quý tộc của Ephesus. Nhà gồm hai tầng, mỗi phòng có chức năng riêng, có hệ thống nước nóng, lạnh. Tường, sàn trang trí các bức tranh khảm đá tinh xảo, sống động, và màu sắc còn gần như nguyên vẹn.
Trên ngọn đồi xanh mướt ở phía Tây Nam có ngôi nhà nhỏ bằng đá của Mẹ Maria. Mỗi năm, hàng ngàn người hành hương đến đây cầu nguyện và ghi những điều ước vào giấy hay một mảnh vải sạch rồi treo lên “bức tường ước” bên ngoài ngôi nhà. 
Ở phía Đông Bắc là đền Artemis thờ nữ thần săn bắn Artemis, một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại. Đền Artemis xây từ năm 550 TCN, bằng đá cẩm thạch, có cấu trúc đồ sộ với chiều dài 115m và chiều rộng 55m. 
Ephesus là vùng đất được tìm thấy đầu tiên bởi người Amazon. Khoảng thế kỷ thứ 10 TCN, vùng đất này rơi vào tay người Hy Lạp, và từ đấy trở nên thịnh vượng với dân số lên đến 300.000 người. Năm 130 TCN, người La Mã chiếm toàn bộ khu Tiểu Á và thành phố Ephesus trở thành thủ đô cũng như đô thị lớn nhất Tiểu Á.
Khi đế chế Ottoman bắt đầu thống trị Thổ Nhĩ Kỳ, Ephesus giảm dần kích thước lẫn dân số. Đến khoảng thế kỷ 15, Ephesus chính thức bị lãng quên và vùi lấp bởi hoạt động mạnh mẽ của thiên nhiên. Năm 1863, vị trí Ephesus mới được tìm thấy và các nhà nghiên cứu bắt đầu công cuộc khai quật di tích cổ này. 

Ngôi nhà của Mẹ Maria
Nhiều người tin rằng ngôi nhà đá nhỏ nằm trên một ngọn đồi xanh mướt ở gần thành phố cổ Ephesus là nơi Mẹ Maria đã sống những ngày cuối đời. Ngôi nhà của Đức Mẹ Maria được phát hiện cùng với di chỉ Ephesus vào đầu thế kỷ 19. Giáo hội Công giáo không công nhận cũng chẳng phủ nhận tính xác thực của ngôi nhà, nhưng hàng ngàn người vẫn hành hương đến đây mỗi năm. Ngôi nhà của Đức Mẹ Maria nay thuộc huyện Selcuk, tỉnh Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ, cách trung tâm huyện khoảng 7km.
Quần thể di tích ngôi nhà của Mẹ Maria được phục dựng trên những bức tường bằng đá cổ vào năm 1894. Ngôi nhà không lớn lắm, cỡ như một nhà nguyện. Bên ngoài có “bức tường ước”. Khách hành hương thường ghi những điều ước vào giấy hay một mảnh vải sạch rồi treo lên tường, vì tin rằng quyền năng của Đức Mẹ có thể giúp họ hoàn thành ước nguyện. 
Chính giữa, ngay lối vào nhà nguyện là căn phòng lớn nhất với ban thờ và tượng của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria. Phía bên phải là một căn phòng nhỏ được cho là phòng ngủ của Đức Mẹ. Bên ngoài phòng nhỏ này có một dòng nước chảy qua dẫn đến đài phun nước hiện nay bên ngoài nhà nguyện. Người ta cho rằng ngàn năm trước Đức Mẹ từng dùng nước này, và họ tin nếu uống nước bệnh có thể được chữa trị hay chí ít cũng tăng cường sức khỏe.
Đầu thế kỷ 19, nữ tu Anna Katherina Emmerich sống lại sau cơn thập tử nhất sinh đã kể câu chuyện thấy được trong lúc ở lằn ranh của sự sống và cái chết. Bà nhìn thấy Đức Mẹ Đồng Trinh Maria cùng Thánh John rời khỏi Jerusalem trước khi những cuộc vây bắt tín đồ Thiên Chúa Giáo trở nên tồi tệ. Họ đã đến Ephesus, và xây một ngôi nhà nhỏ hình chữ nhật trên một đỉnh đồi, có hàng rào bao quanh. Đức Mẹ Maria và mọi người sống ở đây cho đến ngày Mẹ qua đời. 
Nhà văn Brentano ghi lại câu chuyện và viết thành cuốn sách nổi tiếng “Cuộc đời của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria” xuất bản vào giữa thế kỷ 19. Tuy nhiên vào thời điểm đó vẫn chưa ai có thể xác định được ngôi nhà của Đức Mẹ còn tồn tại hay không. Đến năm 1881, mục sư người Pháp tên là Julien Gouyet đã đi đến thành phố cổ Ephesus để tìm hiểu về những điều viết trong sách.
Sau thời gian dài tìm kiếm, ông tìm thấy một ngôi nhà cổ nằm trên một ngọn núi nhìn ra biển Aegean và những tàn tích của thành phố cổ Ephesus. Ông tin rằng đó là nơi sinh sống của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria và báo cáo lên Tòa giám mục Paris, Rome, nhưng không được quan tâm. 10 năm sau, một nhóm nghiên cứu cũng tìm đến ngôi nhà bấy giờ đã rêu phong, phần mái bị hư hại nặng. Báo cáo của nhóm được giới chức Nhà thờ chú ý, và ngôi nhà được phục dựng vào năm 1894. Từ đó đến nay, rất nhiều người hành hương đến đây với niềm tin về ngôi nhà an dưỡng cuối đời của Mẹ Maria.

Đền Hadrian
Là một trong những công trình ở thành phố cổ Ephesus, nay chỉ còn những cột trụ được dựng từ những mảnh vỡ sót lại. Đền Hadrian được xây dựng để thờ vị minh quân Hadrianus của Đế quốc La Mã, trị vì từ năm 117 cho đến lúc qua đời vào năm 138. Đền Hadrian nằm trong khu vực di chỉ Ephesus, cách thư viện Celsus khoảng 500m, thuộc huyện Selcuk, tỉnh Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ.
Đền Hadrian xây từ thế kỷ thứ 2. Ngôi đền đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa trong thế kỷ thứ 4, sau đó bị sụp đổ, hoang phế theo thời gian. Khi di chỉ thành phố cổ Ephesus được tìm thấy vào năm 1863, ngôi đền cũng được khai quật. Từ năm 2001 – 2009, đền được phục dựng lại từ những bộ phận đào được với chi phí khoảng 40 triệu Lira.
Nay, đền Hadria còn lại những cột trụ, phía trên trang trí các bức phù điêu nổi như hình Hoàng đế Theodosius I cùng vợ và con trai. Tuy nhiên, những bức tượng này chỉ là phiên bản, còn phù điêu thật hiện được trưng bày tại Viện bảo tàng khảo cổ.
Hình ảnh ngôi đền Hadrian từng được in trên mặt sau của tờ tiền giấy Thổ Nhĩ Kỳ, gồm mệnh giá 20 triệu Lira năm 2001-2005, và 20 Lira năm 2005 – 2009.

Đền Artemis
Một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại là ngôi đền Artemis có cấu trúc đồ sộ, xây bằng đá cẩm thạch. Nay chỉ còn lại một cột đá nằm chỏng chơ giữa trời, đền Artemis là một trong những ngôi đền Hy Lạp đồ sộ nhất thời cổ đại, thờ nữ thần săn bắn Artemis. Nhưng nay, dấu tích đền Artemis chỉ còn lại một phần nền hư hại, một cột đá, và một số hiện vật. Đền Artemis nằm ở thành phố cổ Ephesus gần thị trấn Selcuk, tỉnh Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ.
Đền Artemis xây năm 550 Trước Công Nguyên (TCN), bằng đá cẩm thạch, có chiều dài 115m và chiều rộng 55m. Phía trước đền là cổng có mái che, tiếp đến là hai hàng cột nối dài đến lối vào đền. Trên những cột này trang trí các bức phù điêu chạm nổi hình các nhân vật trong thần thoại Hy Lạp. Xung quanh nền của ngôi đền có 127 cột đá xếp thành hai hàng, mỗi cột cách nhau không quá 6,5m, đóng vai trò làm trụ cột đỡ mái hình vuông làm từ đá cẩm thạch. 
Các nhà điêu khắc Hy Lạp cổ đại đã tạo ra những tuyệt tác tranh sinh động về các chiến binh Amazon trên các bức tường, cột đá bên trong đền Artemis. Nhờ đó, ngôi đền trở thành một trong những công trình đẹp nhất ở thế giới cổ đại. Tiếc rằng, khối kiến trúc này nay chỉ còn lại một phần nền và một cột đá chỏng chơ giữa trời. 
Khởi thủy, đền Artemis rất nhỏ, có tượng đặt trong một thân cây rỗng. Năm 550 TCN, nhờ sự giúp đỡ tài chính của vua Croesus, đền Artemis được xây mới với cấu trúc rộng lớn, nguy nga, tráng lệ. Đến năm 356 TCN, đúng vào đêm Alexandros Đại đế chào đời, một kẻ cuồng điên ở thành phố Ephesus vì muốn tên tuổi bất tử đã phóng hỏa đốt đền Artemis. 
Vài thập niên sau, ngôi đền mới được xây dựng trên nền cũ với cấu trúc không đổi. Năm 262, ngôi đền bị đốt phá lần thứ hai khi người Goth đánh chiếm Ephesus. Trải qua bao thế kỷ, đền Artemis cùng với thành phố Ephesus đã bị vùi lấp và trôi vào quên lãng.
Khoảng năm 1869, vị trí của ngôi đền được tìm thấy và các nhà khảo cổ học bắt tay vào việc khai quật di tích cổ này. Vết tích còn lại của đền được tìm thấy là một phần nền, một cột đá, và một số hiện vật. Các hiện vật hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Anh ở London. 

Con đường Marble
Marble là một trong ba con đường chính ở thành phố cổ Ephesus. Nơi này nối giữa nhà hát có sức chứa 25,000 người và thư viện Celsus lớn thứ ba trong thế giới cổ đại. Ba con đường chính, gồm Marble, Arcadian, và Curetes bao bọc quanh thành phố cổ Ephesus, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giao thông của Ephesus năm xưa. Con đường Marble nối giữa nhà hát và thư viện Celsus ở thành phố cổ Ephesus nằm phía Tây Nam thị trấn Selcuk, huyện Selcuk, tỉnh Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ, cách trung tâm thị trấn khoảng 3km.
Hai bên phố Marble là hai hàng cột bằng đá cẩm thạch, có độ cao không đồng đều, phía trên khắc các từ hoàng đế. Đóng vai trò chính trong giao thông ở phố cổ Ephesus, trên con đường này vẫn còn in dấu vết những chuyến xe ngựa qua lại năm xưa. Các tượng bán thân của những người quan trọng được dựng ở dọc đường.
Rải rác trên phố có các bảng hiệu như là quảng cáo. Đây được xem là những quảng cáo đầu tiên trong lịch sử của ngành quảng cáo. Điển hình như hình vẽ graffiti về một phụ nữ với vương miện, một trái tim và một chân trái, có ý nói về nhà chứa, một ngón tay cho thấy đó là thư viện. 
Xây dựng từ thế kỷ thứ 1, phố Marble bắt đầu xuống cấp sau 4 thế kỷ. Đến thế kỷ 5, phố Marble được xây dựng lại, và tồn tại thêm 10 thế kỷ nữa thì bị chôn vùi cùng với thành phố Ephesus vào thế kỷ 15.

Lễ hội chọi lạc đà
Hai con lạc đà đực sẽ vật nhau để giành một con lạc đà cái là nội dung thi đấu của lễ hội chọi lạc đà, thu hút hàng ngàn người xem mỗi năm ở Thổ Nhĩ Kỳ. Cho đến nay, lễ hội chọi lạc đà vẫn được tổ chức đều đặn mỗi năm vì giá trị văn hóa của nó hơn là tính tranh đấu của cuộc thi. Lễ hội trở thành nơi gặp gỡ của những người chủ lạc đà và những người yêu môn thể thao này. Lễ hội chọi lạc đà được tổ chức thường niên tại Selcuk, thành phố thuộc tỉnh Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ.
Lễ hội chọi lạc đà có nguồn gốc từ các bộ lạc cổ Turkic cách đây hơn 2.400 năm. Ban đầu, đây được xem là hình thức cạnh tranh giữa các đoàn lữ hành du mục ở Trung Đông. Lễ hội đã phải ngừng tổ chức một thời gian khi chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ xem đây là một phong tục lạc hậu.
Thể lệ cuộc thi là hai con lạc đà đực sẽ vật nhau để giành một con lạc đà cái. Vì vậy, thời gian lý tưởng nhất để thưởng thức lễ hội là từ tháng 12 đến tháng 1, khi lạc đà đực hăng hái ghi điểm với lạc đà cái.
Những con lạc đà tham gia thi đấu sẽ được quấn thảm trang trí, yên ngựa chạm khắc và chuông quanh cơ thể rồi được dẫn đi qua khắp đường phố giữa tiếng nhạc và những đoàn người nhảy múa. Chủ của những con lạc đà này sẽ đội mũ caro, đeo khăn quàng cổ, mặc áo jacket và quần dài, mang giày boot gấp nếp.
Đêm trước khi diễn ra giải đấu, chủ lạc đà và những người yêu thích môn thể thao này sẽ có bữa gặp mặt thân mật để kết bạn mới, gặp lại những bạn bè cũ, cùng nhau ăn uống và trò chuyện. Trước khi trận đấu diễn ra, một con lạc đà cái sẽ được dẫn đi vòng quanh hai con lạc đà đực nhằm khuyến khích các lạc đà đực chiến đấu. Khán giả đến xem giải đấu cũng sẽ đặt cược vào con lạc đà mà họ cho là có khả năng giành chiến thắng.
Con thắng cuộc là con ngồi được lên thân đối thủ, nếu có một con bỏ chạy khỏi sân đấu thì con còn lại sẽ giành chiến thắng. Các trận đấu thường diễn ra không quá 10 phút, không kéo dài thời gian tránh gây ra những thương tích nghiêm trọng. Ban giám khảo chấm điểm dựa trên phong cách ăn mặc và phần thi đấu của lạc đà.
Lễ hội này thu hút hàng ngàn người xem, nhạc công, người bán hàng rong và hàng trăm con lạc đà thi đấu mỗi năm.

Khu dân cư Uchisar
Tọa lạc ở vị trí cao nhất trong khu vực Cappadocia, khu dân cư Uchisar dễ dàng được nhận ra từ xa với khối đá khổng lồ trông như một pháo đài. Khu dân cư Uchisar từng là nơi tập trung đông dân cư nhất vùng cao nguyên đá Cappadocia. Ở nơi này, các ngôi nhà, khách sạn, nhà hàng, cửa hàng… đều khoét sâu vào trong vách đá. Khu dân cư Uchisar nằm trên con đường nối giữa hai thị trấn Nevsehir và Goreme, thuộc tỉnh Nevsehir, Thổ Nhĩ Kỳ, cách trung tâm thị trấn Goreme khoảng 5km.
Nơi cao nhất và nổi bật nhất của khu dân cư Uchisar là lâu đài đá Uchisar bao quanh một ngọn núi cao khoảng 130m, có vô số căn phòng khoét sâu vào vách đá nối với nhau bằng cầu thang và hệ thống đường hầm chằng chịt. Tại lối vào mỗi căn phòng luôn có một cánh cửa dạng cối xay đá để kiểm soát sự xâm nhập bất hợp pháp. Lâu đài này từng là một khu quân sự, nhưng do sự xói mòn của gió và thời gian, các đường hầm đã bị sập. Từ vị trí lâu đài, có thể bao quát toàn cảnh Cappadocia trong ánh hoàng hôn dần buông, thấy đá núi hòa quyện với mây trời, và thấy cả núi Erciyes ở phía xa xa.
Các ngôi nhà, khách sạn, nhà hàng… ở Uchisar đều xoay quanh tòa lâu đài đá. Riêng các ngôi nhà ở phía Bắc được dùng làm nơi trú ẩn cho chim bồ câu. Đa phần đều sơn màu trắng để thu hút chim bồ câu. Phân chim bồ câu là một loại phân bón tự nhiên cực kỳ tốt cho cây trồng ở Cappadocia. Khu dân cư Uchisar từng là nơi có đông dân sinh sống trong những ngôi nhà hang động nhất vùng Cappadocia. Nhưng do thường xuyên xảy ra hiện tượng lũ quét, xói mòn nên người dân rời bỏ nơi chứa đầy nguy hiểm này mà ra đi. 

Thành phố ngầm Ozkonak
Điểm đặc biệt của thành phố ngầm Ozkonak là hệ thống liên lạc giữa các phòng và các tầng, cùng với hệ thống đường hầm lắt léo. Ozkonak là một trong 40 thành phố ngầm lớn và sâu tại khu vực Cappadocia. Thành phố này được một người nông dân tìm thấy vào năm 1972. Thành phố ngầm Ozkonak nằm ở phía Đông Bắc thị trấn Avanos, tỉnh Nevsehir, Thổ Nhĩ Kỳ, cách trung tâm thị trấn khoảng 14km.
Thành phố ngầm Ozkonak được xây dựng trên sườn núi đá lửa, gồm 10 tầng, sâu đến 40m, đủ chỗ cho khoảng 60.000 người ở trong vòng 3 tháng. Điểm đặc biệt của thành phố ngầm Ozkonak là hệ thống liên lạc giữa các phòng và các tầng. Cấu trúc thành phố gồm các công trình phòng ngủ, giếng nước, nhà máy rượu, ngôi mộ… Trong thành phố có rất nhiều đường hầm dài và hẹp, lắt léo, nhằm mục đích đánh lừa kẻ thù khi chúng xâm nhập. 
Phổ biến ở các thành phố ngầm là dạng cửa cối xay đá lớn. Chúng được sử dụng bằng cách lăn qua chặn kín lối vào. Ở thành phố ngầm Ozkonak, trước cửa cối xay đá, phía trên trần có những lỗ nhỏ kết nối với tầng hầm phía trên. Khi có kẻ xâm nhập, người dân sẽ đứng ở tầng hầm phía trên đổ dầu nóng vào kẻ thù hoặc đâm chúng. 
Năm 1972, một người nông dân tên là Latif Acar cảm thấy tò mò không biết nước thừa của vụ mùa chảy đi đâu. Ông lần tìm theo dòng chảy của nước thì phát hiện một phòng ngầm dưới lòng đất. Sau này, các nhà khảo cổ khai quật nơi này đã phát hiện cả một thành phố ngầm rộng lớn dưới lòng đất. 
Hiện nay, thành phố ngầm Ozkonak chỉ mở cửa 4 tầng ngầm đón khách tham quan. 

Khu dân cư Ortahisar
Khu Ortahisar được biết đến với những ngôi nhà bằng đá đẹp như tranh vẽ, những con phố chật hẹp, nhà thờ và lâu đài trong hang đá, và sự thân thiện. Ortahisar có nghĩa là “pháo đài trung tâm”, và như tên gọi, nơi này nằm ở vị trí trung tâm các thị trấn quanh Cappadocia, gồm Goreme, Urgup, Uchisar, và Nevsehir. Khu Ortahisar nằm trên trục đường nối hai thị trấn Nevsehir và Urgup, cách thị trấn Urgup khoảng 6km về hướng Tây Nam.
Ở giữa trung tâm khu dân cư Ortahisar vút lên một pháo đài bằng đá cao 90m như một điểm mốc của khu này. Pháo đài thực ra là một cột đá tự nhiên, người dân khoét sâu vào đá tạo thành hệ thống hang động có cấu trúc như một lâu đài và đường hầm chằng chịt. Từ xa nhìn lại, pháo đài trông như một tổ ong khổng lồ. Khi xưa, pháo đài này được sử dụng làm nơi ở và căn cứ quân sự. Theo thời gian, một phần của pháo đài bị sập và để lộ ra một số nội thất bên trong lâu đài. Nay, người ta đã khôi phục lại và du khách có thể tham quan xung quanh pháo đài thông qua cầu thang.
Bao quanh pháo đài là những con phố chật hẹp, những ngôi nhà bằng đá đẹp như tranh vẽ, nhà thờ và lâu đài trong hang đá. Người dân ở đây rất thân thiện và mến khách, sống chủ yếu bằng nghề trồng nho. Trên khắp các vách đá ở khu Ortahisar còn là những kho đông lạnh tự nhiên. Người dân thường lưu trữ các loại trái cây như chanh và cam từ khu vực Địa Trung Hải, táo từ Nigde, khoai tây địa phương, quả mộc qua và hành trong các kho đông lạnh này.

Đi khinh khí cầu ở Cappadocia
Sẽ là một trải nghiệm tuyệt vời nếu du khách đón bình minh ở cao nguyên đá Cappadocia từ khinh khí cầu lơ lửng trên độ cao 600m. Cappadocia được tạp chí Travel and Leisure bình chọn là một trong 10 điểm đến nổi tiếng với dịch vụ “dạo chơi” bầu trời bằng những khinh khí cầu đầy màu sắc. Chi phí khoảng từ 125 EUR /người, thời gian từ 60 - 90 phút/chuyến.
Với lộ trình tham quan dài khoảng 2,5km, các khinh khí cầu sẽ khởi hành từ thị trấn Goreme và đáp xuống tại làng Cavusin. Khi lơ lửng ở độ cao 600m, du khách sẽ thấy cao nguyên đá Cappadocia hiện ra là một vùng đất lô nhô các cụm “nấm” đá cao từ 10-40m được vây quanh bởi những ngọn núi lửa ngủ yên phủ đầy tuyết trắng. Khinh khí cầu nhẹ nhàng lách qua các khe núi, lướt qua những “ống khói cổ tích” khổng lồ cao hơn 300m, các nhà thờ, tu viện hay nhà ở được khoét sâu vào núi đá, những khối đá hình thù kỳ dị, vườn nho…
Trong ánh nắng rực rỡ của bình minh, cao nguyên đá Cappadocia như được điểm tô thêm bởi hàng chục khinh khí cầu sặc sỡ sắc màu. Mỗi khinh khí cầu lớn có thể chở hơn 20 người, các khinh khí cầu sử dụng phổ biến chỉ chở được khoảng 3-5 người. Từ giữa tháng 3 đến tháng 12, thời tiết cực kỳ thuận lợi cho những chuyến du ngoạn bằng khinh khí cầu.

Thung lũng Güvercinlik
Güvercinlik có nghĩa là chim bồ câu, thung lũng này thường được khách du lịch biết đến với tên gọi Pigeon Valley (thung lũng chim bồ câu). Bồ câu có mặt ở khắp mọi nơi trên vùng Cappadocia, nhưng tập trung nhiều nhất là ở Pigeon Valley, thung lũng chim bồ câu. Có lẽ những chú chim bồ câu ở Pigeon Valley là những chú chim hạnh phúc nhất, vì chúng được vỗ béo mà không bao giờ giờ sợ bị thịt. Bởi lẽ bồ câu là loài vật linh thiêng với những người theo đạo Hồi ở Thổ Nhĩ Kỳ. Thung lũng Güvercinlik nằm giữa thị trấn Goreme và làng Uchisar, tỉnh Nevsehir, Thổ Nhĩ Kỳ.
Từ thời cổ đại, người dân vùng Cappadocia đã khoét sâu vào các cột đá mềm, tạo thành các hốc làm nhà ở cho những chú chim bồ câu dễ thương. Những ngôi nhà này có độ rộng và được đặt rất nhiều hạt kê để chim ăn và ị luôn trong đó. Sau đấy, họ thu gom phân chim bồ câu, dùng bón cho các loại cây ăn trái. Cappadocia vốn là vùng đất cằn cỗi, nhưng nhờ phân chim bồ câu mà các loại trái cây ở đây nổi tiếng ngon và ngọt nhất Thổ Nhĩ Kỳ.
Ở thung lũng Güvercinlik, người dân thường treo con mắt quỷ màu xanh biếc trên các cành cây. Họ tin rằng làm như vậy, mọi tà khí sẽ được xua đuổi và may mắn sẽ đến với mỗi người. 


Làng cổ Cavusin
Tàn tích của ngôi làng cổ Cavusin là một bức tường đá khổng lồ lỗ chỗ những hốc đá như tổ ong, bên trong là những ngôi nhà và nhà thờ mang phong cách Hy Lạp. Cavusin là một trong những ngôi làng lâu đời nhất ở vùng Cappadocia. Nay, các công trình trong ngôi làng cổ đều bị bỏ hoang, và người dân lập một ngôi làng mới ngay dưới chân di tích cổ để sinh sống. Làng cổ Cavusin nằm ở phía Nam Cappadocia, đoạn giữa thị trấn Goreme và Avanos, cách thị trấn Goreme khoảng 2km.
Ngay từ xa, tàn tích của ngôi làng cổ Cavusin đã hiện ra với bức tường đá khổng lồ chi chít, nhấp nhô lỗ to lỗ nhỏ. Trong mỗi lỗ hổng ấy từng là một ngôi nhà hay nhà thờ của các giáo dân Clegymen. Một trong những nhà thờ trong hang đá lâu đời và lớn nhất Cappadocia chính là nhà thờ có tên đặt theo tên Hoàng đế Nicephoros Phocas ở làng cổ Cavusin này. Nhà thờ được dựng từ năm 960, bên trong vẫn còn bức chân dung Nicephoros Phocas và gia đình ông. 
Nhà thờ cổ còn lại của Cavusin là nhà thờ Thánh John xây từ thế kỷ thứ 5. Có ba lối vào dẫn đến ba gian nằm song song gần như tách biệt. Trước đây, các gian ngăn cách bởi các cột lớn, nhưng nay lấp đầy đất đá. Vài thập kỷ trước, mưa gió xói mòn các khối đá khiến đất đá rơi xuống, các công trình này có nguy cơ có thể sập bất cứ lúc nào. Dân làng Cavusin liền từ bỏ những ngôi nhà đá và di dời xuống phía dưới, xây dựng những ngôi nhà ngay trên mặt đất bằng phẳng để sinh sống. 
Làng mới Cavusin yên tĩnh, thanh bình, sống chủ yếu bằng nghề làm nông. Trong làng có quán café, trà nho nhỏ, nơi những người đàn ông thường ngồi tán dóc, vài tiệm bán đồ lưu niệm be bé ven đường. Phía xa xa là đồng cỏ, nơi có những chú cừu mập tròn đang chăm chỉ gặm cỏ. Từ làng mới Cavusin, du khách dễ dàng tìm đường ra đại lộ chính nối với thị trấn Goreme. 

Thung lũng Vadi Gül
Thung lũng Vadi Gül thường được biết đến với tên gọi Rose Valley, vì có những hẻm đá trông giống như những nụ hoa hồng. Từ thị trấn Goreme, du khách có thể quan sát toàn cảnh thung lũng Rose. Thung lũng này nằm kế bên thung lũng đỏ (Red Valley) nổi bật với những dãy núi đá màu đỏ. Thung lũng Rose nằm trên cao nguyên Cappadocia, cách thị trấn Goreme khoảng 5km. 
Để đến thung lũng Rose, du khách phải băng qua thung lũng Meskendir có những ngôi nhà khoét sâu vào vách đá ở độ cao vài chục mét và một số đường hầm tự nhiên rộng rãi, thoáng mát. Qua khỏi thung lũng Mesdenkir sẽ thấy ngay bảng chỉ dẫn đến thung lũng Rose. Dọc theo thung lũng Rose là hàng loạt các mỏm đá hình thù kỳ quặc, có lúc giống kem ốc quế đang tan chảy, có khi lại giống hình dáng chú chó.
Trung tâm thung lũng Rose là “vườn hồng đá” với hằng hà vô số những hẻm đá có hình thù tựa như những nụ hoa hồng. Sau mỗi cơn mưa nặng hạt, những “nụ hồng” đá sẽ nhuộm sắc hồng tươi thắm. Tác phẩm kỳ vĩ này được hai “nghệ nhân” gió và nước biển miệt mài điêu khắc vào các sườn núi trong suốt hàng triệu triệu năm. 

Thành phố ngầm Kaymakli
Kaymakli cùng với Derinkuyu là hai thành phố ngầm lớn nhất và được nhắc đến nhiều nhất ở vùng Cappadocia. Hiện nay chỉ có 5 tầng ngầm của thành phố ngầm Kaymakli mở cửa đón khách tham quan. Nơi này có đường hầm nối liền với hai thành phố ngầm Derinkuyu và Mazikoy. Thành phố ngầm Kaymakli nằm ở phía Nam thành phố Nevsehir, thủ phủ tỉnh Nevsehir, Thổ Nhĩ Kỳ, cách trung tâm thành phố khoảng 20km.
Thành phố ngầm Kaymakli được xây vào khoảng thế kỷ 6 đến thế kỷ 10, có diện tích rộng tới 2,5km2. Thành phố gồm nhiều tầng ngầm với các công trình như phòng ngủ, nhà bếp, nhà thờ, hầm mộ, kho chứa, nhà sản xuất rượu… 
Lối vào thành phố là một căn hầm đào bên dưới tảng đá basalt (loại đá hình thành do núi lửa phun trào), ăn thông với hành lang chính rộng hơn 15m. Bên trái có kho chứa, nhà xưởng, bên trái là nơi sinh hoạt cộng đồng. Từ đây có các hành lang nhỏ dẫn đến những căn phòng lớn nhỏ được khoét sâu vào các tầng đá tuff (loại đá hình thành do những mảnh vụn của núi lửa lắng đọng và nén lại). Các căn phòng này xinh xắn, có màu sắc sặc sỡ và sinh động. 
Chỉ có 5 tầng ngầm của thành phố mở cửa đón khách tham quan. Trong số đó, có một vài tầng ngầm nối liền với hai thành phố ngầm Mazikoy ở phía Đông và Derinkuyu ở phía Đông Nam bằng một con đường nằm sâu dưới lòng đất.


Thung lũng Passabag
Thung lũng Passabag tựa như thế giới cổ tích với những cột đá cao khoảng 10m trông y hệt những cây nấm khổng lồ nằm lọt thỏm giữa những ruộng nho xanh ngát. Passabag trong tiếng Thổ có nghĩa là “vườn nho của Pacha”. Thung lũng này còn có tên gọi khác là Monks Valley (thung lũng thầy tu), vì các cột đá có dáng vẻ như những thầy tu mặc áo chụp mũ thời trung cổ. Thung lũng Passabag nằm trên trục đường Zelve, thuộc cao nguyên Cappadocia, tỉnh Nevsehir, Thổ Nhĩ Kỳ.
Bao quanh thung lũng đá Passabag là những ruộng nho. Các cột đá ở Passabag thuộc loại đẹp nhất cao nguyên Cappadocia. Những cột đá này mảnh, cao khoảng 10m, trông hệt như những cây nấm khổng lồ trong truyện cổ tích. Theo năm tháng, quá trình phong hóa của tự nhiên đã bào mòn những cây nấm già, và tăng thêm chiều cao cho những cây nấm trẻ.
Thưở xưa, người dân khoét sâu vào các cột đá để làm nhà ở. Nay không còn ai ở đây nên các ngôi nhà đá này đều bị bỏ hoang. Ngoài nhà ở, khu vực Passabag còn có các nhà nguyện trong hang đá, vì khi xưa cộng đồng Thiên Chúa giáo phát triển rất mạnh quanh nơi này.

Làng Avanos
Nằm bên hữu ngạn sông Kızılırmak lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ, làng Avanos nổi tiếng với nghề gốm sứ và dệt thảm từ thời cổ đại. Tên gọi trong thời cổ đại của làng Avanos là Venessa. Nơi này còn được biết đến với sự độc và lạ của bảo tàng tóc. Làng Avanos nay là thị trấn Avanos, tỉnh Nevsehir, Thổ Nhĩ Kỳ.
Avanos là một ngôi làng nhỏ và cổ kính, nổi tiếng với nghề làm gốm sứ từ thời cổ đại. Thương hiệu gốm sứ Avanos có được là nhờ kết hợp kỹ thuật cổ truyền với loại đất sét giàu khoáng chất khai thác từ phù sa của dòng sông Kızılırmak. Dọc theo con đường rải sỏi ven sông hay các con phố chật hẹp là các cửa hàng bán đồ gốm sặc sỡ sắc màu. Nổi bật nhất vẫn là sắc đỏ đặc trưng của gốm Avanos. Ở đấy, du khách có thể tìm hiểu về nghề làm gốm, và mua các sản phẩm gốm về làm quà.
Sẽ thật tiếc nếu đến Avanos mà không tham quan nhà máy dệt thảm thủ công lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ. Thảm Thổ Nhĩ Kỳ tinh xảo với cách đan nhiều nút thắt trên cùng một diện tích so với các loại thảm thông thường, nên các tấm thảm có độ bền lên đến hàng trăm năm. Phụ nữ ở khắp các vùng quê Thổ Nhĩ Kỳ đều tập trung về đây học nghề và làm việc tại các công xưởng. Một tấm thảm cầu kỳ phải mất đến hai năm mới hoàn thành. Đặc biệt nơi này có bộ sưu tập những tấm thảm đẹp nhất thế giới, có tấm giá trị bằng hoặc hơn cả một chiếc xe hơi.
Bảo tàng tóc ở Avavos độc đáo và lạ lùng nhất thế giới. Xuất hiện cách đây 30 năm, đến nay bảo tàng đã phủ hơn 16.000 lọn tóc của phụ nữ từ khắp trên trần xuống chân tường. Bảo tàng độc và lạ này nằm bên dưới cửa hàng gốm sứ Chez Galip, mở cửa hoàn toàn miễn phí cho tất cả các khách tham quan. 





Thung lũng Devrent
Thung lũng Devrent nổi tiếng với những cột đá có niên đại hàng triệu triệu năm tựa như những ống khói trong truyện cổ tích, vườn thú đá. Thung lũng Devrent còn có tên gọi khác là Imaginary Valley (thung lũng ảo) hay Pink Valley (thung lũng màu hồng) nằm giữa thị trấn Avanos và Urgup, tỉnh Nevsehir, Thổ Nhĩ Kỳ.
Khác với các thung lũng ở Cappadocia, thung lũng Devrent không có bóng dáng con người sinh sống, bởi đá bị quá trình phong hóa bào mòn sắc lẻm. Nơi này chỉ có những cột đá niên đại hàng triệu triệu năm tựa như những ống khói trong truyện cổ tích và các cột đá bị bào mòn tạo thành vô số hình thù các con vật. Đến đây, mỗi du khách sẽ có cơ hội phát huy tối đa năng lực tiềm ẩn của trí tưởng tượng trước vườn thú đá. Khắp nơi trong thung lũng là hình ảnh các con vật như lạc đà, rắn, hươu, nai, cá heo, con rồng... 

Bảo tàng ngoài trời Goreme
Để tạo thế phòng thủ trước sự tấn công và tránh sự tàn phá của thời tiết, các thầy tu ở thị trấn Goreme xây nhà thờ ẩn dật bằng cách khoét sâu vào vách đá. Vào thế kỷ 5 – 10, thị trấn Goreme từng là một trong những nơi có cộng đồng Thiên Chúa giáo phát triển mạnh mẽ, nên nơi này lưu giữ nhiều di tích tu viện, nhà thờ. Quần thể công trình này cấu thành Bảo tàng ngoài trời Goreme (Goreme Open Air Museum), một trong những điểm tham quan hấp dẫn nhất miền Trung Thổ Nhĩ Kỳ. Bảo tàng ngoài trời Goreme nay thuộc thị trấn Goreme nằm trên cao nguyên Cappadocia, tỉnh Nevsehir, Thổ Nhĩ Kỳ, cách trung tâm thị trấn khoảng 2km.
Hơn 30 nhà thờ ở Bảo tàng ngoài trời Goreme được xây từ thế kỷ 10-12, với cấu trúc khoét sâu vào các hẻm đá, vách đá. Cách xây dựng ẩn dật trong núi đá giúp nhà thờ tránh khỏi sự tàn phá của thời tiết, đồng thời có thế phòng thủ tốt trước sự tấn công của người Ả Rập. Những mái vòm vẫn còn nguyên những họa tiết sống động, trên tường vẹn nguyên các bức bích họa tươi thắm màu sơn nước. Trong mỗi nhà thờ này có phòng họp, phòng ở, gian bếp, phòng ăn với những dãy bàn ghế dài xây liền nhau.
Để bảo tồn di sản, Bảo tàng ngoài trời Goreme giới hạn số lượng khách tham quan vào giờ cao điểm. Mỗi du khách có khoảng 3 phút để chiêm ngưỡng cấu trúc nhà thờ, bởi diện tích chỉ đủ chỗ cho 5-6 đứng. Thời điểm tham quan tốt nhất vào mùa hè là sáng sớm hoặc chiều muộn. 

Bệnh viện cổ Asklepion
Trong tiếng Hy Lạp và La Mã cổ, Asklepion nghĩa là đền chữa bệnh. Asklepion ở Bergama được xem là cái nôi của ngành phân tâm học và nhiều cách chữa bệnh khác. Bệnh viện cổ Asklepion, nằm ở bên cạnh một trại lính. Du khách đến gần khu vực trại lính không được chụp ảnh. Tham quan bệnh viện cổ Asklepion phải mua vé vào cửa giá 15 lira Thổ Nhĩ Kỳ và thời gian tham quan là từ sáng đến 7 giờ chiều. Di tích bệnh viện cổ Asklepion nằm cách trung tâm thị trấn Bergama chỉ khoảng 1,6km về phía Tây.
Asklepion là một khu gồm một đền thờ, một thư viện, một nhà hát có sức chứa 3.500 người và nhiều phòng chữa bệnh. Đến đây hiện chỉ còn thấy đền Asklepion với một mái bán cầu bề ngang 23m, bên dưới có một đường hầm đưa tới đền Telesphorus. Trong đền Telesphorus có những phòng chữa trị bệnh nhân và phòng dành riêng để các bệnh nhân ngủ.
Giữa khu di tích bệnh viện cổ Asklepion là ba hồ nước dùng để trầm mình và một hồ nước dùng để uống. Bao quanh bên ngoài Asklepion là một dãy 17 cột tròn cao dẫn tới thư viện và nhà hát La Mã có hình vòng cung, nơi người Bergama thường tổ chức các buổi trình diễn kịch cổ điển.
Asklepion tại Bergama đã được một người tên Archias xây lên vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên để vinh danh thần sức khỏe và y học Aesculapius. Từ 350 trước công nguyên asklepion được xây dựng khắp nơi trên thế giới, từng đoàn bệnh nhân kéo tới asklepion để xin được chữa bệnh. Họ ngủ qua đêm rồi sáng hôm sau kể lại giấc mơ của họ cho các thầy tu. Các thầy tu sẽ nghiên cứu giấc mơ của bệnh nhân để tìm hiểu nhân cách con người, tiền thân của ngành phân tâm học do Freud đưa ra sau đó 2.000 năm.
Bệnh nhân thường được chữa trị bằng cách đi tắm hay đi tập tại một phòng chức năng. Theo Aesculapius, rắn là loài vật linh thiêng nên ông thường dùng rắn trong những buổi lễ trị bệnh và những con rắn không độc thường được thả cho ngủ chung với bệnh nhân.
Những nhà khảo cổ đã đào lên được nhiều tặng phẩm như những đồ nặn những bộ phận cơ thể bằng đất nung cũng như những bài văn viết đề tặng các bác sĩ.của bệnh nhân đã được chữa lành. Trong số những phương cách chữa trị có tâm thần trị liệu, xoa nắn, trị liệu bằng cây thuốc, đắp bùn, trầm mình dưới nước, uống nước, ngủ và tìm ý nghĩa của những cơn mê sảng để chữa bệnh. Bệnh nhân nào cũng muốn được vào chữa trị tại Asklepion kể cả những người nổi tiếng như các Hoàng Đế Hadrian, Marcus Aurelius và Caracalla.

Thành cổ La Mã Pergamon
Sau nhiều biến động, Pergamon giờ chỉ còn những tàn tích loang lỗ, nhưng đủ để du khách hình dung quy mô to lớn của thành phố Pergamon của đế chế La Mã hùng mạnh một thời. Không còn nhiều những công trình nguyên vẹn, nhưng một nhà hát dốc đứng quy mô, vài đền thờ lớn và những bức tường loang lỗ còn lại cũng chứng minh Pergamon từng là một thành phố lớn và hùng mạnh. Thành cổ La Mã Pergamon nằm cách biển Aegean khoảng 26km, bên bờ Bắc sông Caicus. Những khu vực chính của thành cổ này hiện đang nằm ở phía Bắc và phía Tây thành phố Bergama, Thổ Nhĩ Kỳ.
Một số tác giả xưa coi Pergamon là thuộc địa của Arcadians, nhưng nhiều câu chuyện vẫn chỉ là truyền thuyết. Các sử gia Hy Lạp cho rằng đây là thủ đô của vương quốc Pergamon trong suốt thời Hy Lạp cổ đại, dưới triều Attalid từ năm 281 – 133 trước công nguyên. Trong sách Khải Huyền, Pergamon được ghi nhận là một trong bảy nhà thờ của Châu Á.
Thành phố Pergamon đạt đến đỉnh cao phát triển dưới thời cai trị của đế quốc La Mã. Khi đó, diện tích thành phố mở rộng lên tới 90ha bao quanh bởi một bức tường lớn dài 4km, với dân số khoảng 200.000 người. Thời điểm này, thành phố đã có đền thờ lớn, sân vận động, nhà hát thiết kế dốc đứng độc đáo, một quảng trường lớn và giảng đường cũng đã được xây dựng.
Thành phố Pergamon chịu nhiều ảnh hưởng xấu trong thế kỷ thứ 3 và bị hư hỏng nặng bởi một trận động đất hồi năm 262 rồi bị những người Goths đánh đuổi chỉ một thời gian ngắn sau đó.
Anatolia bị hoàng đế Ba Tư Sassanid xâm chiếm. Đến khi lực lượng Byzantine đánh đuổi người Ba Tư, hoàng đế Constans II cho xây dựng lại Pergamon với quy mô nhỏ hơn trước. Đến năm 717, Pergamon bị quân đội Maslama ibn Abd al-Malik cướp phá khi đang trên đường tới cuộc vây hãm Constantinople.
Sau nhiều biến động, Pergamon giờ chỉ là một tàn tích. Hai bình đựng di cốt bằng thạch cao lớn của Sultan Murad III đã được chuyển từ tàn tích Pergamon về nhà thờ Hagia Sophia ở Istanbul để bảo tồn.

Đền Trajan
Xây dựng từ thế kỷ thứ 2, đến nay ngôi đền tuy không còn nguyên vẹn nhưng danh tiếng của vị hoàng đế Trajan gắn liền với đền vẫn mãi vang danh. Dù chỉ còn lại những dấu tích điêu tàn, nhưng đền Trajan vẫn ghi lại thời kỳ huy hoàng của đế chế La Mã một thời, là điểm đến lý tưởng cho những ai mê tìm tòi, khám phá lịch sử. Đền Trajan nằm cách trung tâm thành phố Bergama khoảng 8km về phía Bắc.
Đền thờ Trajan là đền thờ La Mã được con trai nuôi và người kế nhiệm của hoàng đế Trajan là hoàng đế Hadrian xây dựng ở Quảng trường Trajan (đặt tại La Mã cổ đại vào khoảng thế kỷ thứ 2) từ giữa năm 125 và 138. Khu đền thờ hoàng đế Trajan và vợ là Plotina sau khi Trajan được Viện nguyên lão La Mã tôn xưng là thần. Tuy nhiên, tro cốt của hoàng đế Trajan lại không được chôn trong đền Trajan mà đặt ở Lăng Augustus.
Đến thời Trung cổ, đền Trajan bị phá hủy, nay chỉ còn lại một số dấu tích. Dòng chữ đề tặng trong đền hiện đang được trưng bày ở bảo tàng Vatican. Một cột đá granite nguyên khối có đường kính 2m còn tồn tại gần cột trụ Trajan cũng được cho là thuộc về khu đền này.
Hoàng đế Trajan tên thật là Marcus Ulpius Nerva Traianus Augustus, sinh năm 53 và mất năm 117 tại thành phố Selinus sau khi phát bệnh nặng trong chuyến hải hành trở về La Mã. Xuất thân từ gia đình không có gốc gác quý tộc tại tỉnh Hispania Baetica nhưng với tài điều binh khiển tướng, Augustus về sau đã được làm vua. Trong quá trình trị vì, Trajan được người dân tôn kính. Trong việc hành binh và bành trướng lãnh thổ, ông là vị hoàng đế La Mã duy nhất sánh ngang với Alexander Đại đế. Những vùng đất ngày nay là Iraq, Iran, Ả Rập và cả miền Nam nước Nga đều đã nằm dưới vó ngựa của hoàng đế Trajan.
Được biết vị vua này là người đồng tính. Tuy nhiều người vẫn cho đây là tin đồn, nhưng vẫn có một số ghi chép của nhà sử học Julian Bennett và Cassius Dio cho thấy trong lúc còn là hoàng đế, Trajan khá nghiện rượu, mê những chàng trai trẻ và thường có quan hệ giường chiếu với họ. Mặc dù vậy, Trajan vẫn luôn giữ nề nếp La Mã xưa. Danh tiếng về vị hiền đế này đến tận thế kỷ 19 vẫn còn được nhắc và so sánh nhiều trong nhân dân.

Thành cổ Troia
Tưởng chỉ có trong sử thi của Homer, thành cổ Troia và mô hình con ngựa thành Troia nay đã mở cửa đón khách tham quan. Ngày nay, thành cổ Troia đã là di sản thế giới do Unesco công nhận, mở cửa cho khách tham quan. Trong khu này cũng có hình tượng ngựa gỗ được phục dựng, bên trong có thể chứa khoảng 20 người. Một mô hình ngựa khác được đoàn làm phim Hollywood tặng lại cho vùng đất đặc biệt này sau khi hoàn thành bộ phim “Con ngựa thành Troia”, hiện được đặt trong công viên của tỉnh Canakkale. Thành cổ Troia nằm tại di chỉ Hisarlik, tỉnh Canakkale, thuộc vùng Anatolya.
Tàn tích của thành cổ Troia được phát hiện vào thế kỷ 19. Ban đầu, thành phố này được cho là hư cấu trong sử thi Illiad và Odysseus của Homer. Chuyện kể rằng người Hy Lạp đã mở một cuộc chiến tranh tấn công thành Troia nhằm giành lại vợ của vua Menelaus, người đẹp Helen, bị hoàng tử Paris cướp mất. Cuộc chiến kéo dài suốt 10 năm trời không phân thắng bại cho đến khi người Hy Lạp tạo ra con ngựa gỗ đặt trước thành Troia.
Tướng Odysseus đã cho phá vài con tàu lấy gỗ làm ngựa gỗ khổng lồ, bên trong đủ không gian chứa một đạo quân của Hy Lạp. Đặt ngựa gỗ trước cổng thành, quân Hy Lạp giả vờ nhổ neo rời khỏi thành Troia. Quân và dân thành Troia tin rằng đây là vật phẩm cho người chiến thắng nên đã kéo ngựa vào thành, ăn uống, múa hát no say. Đạo quân Hy Lạp đêm khuya lẻn ra khỏi ngựa gỗ rồi mở cổng thành. Thành Troia bị người Hy Lạp chiếm và thiêu hủy.
Tuy nhiên, các nhà khảo cổ cho rằng thành Troia có thể không chỉ là thần thoại mà tồn tại thật sự sau khi khai quật di chỉ Hisarlik ở một khu đồi tại tỉnh Canakkale, vùng Tây Bắc Thổ Nhĩ Kỳ, nằm ngay cửa ngõ vào biển Đen. Di chỉ Hisarlik có 9 thành phố nằm chồng lên nhau niên đại khoảng 5.000 năm, ở giữa là một khu thành nằm lọt trong một thị trấn đông đúc, xung quanh có tường cao bảo vệ.
Trong 9 thành phố được tìm thấy, thành phố thứ 6 và thứ 7 được xem là khớp với những miêu tả về thành Troia nhất. Thành phố thứ 6 đẹp, rộng và hoành tráng đúng như lời Homer, nhưng lại sụp đổ vì động đất vào năm 1250 trước công nguyên chứ không phải vì chiến tranh. Thành phố thứ 7 thì mang đầy dấu tích bị vây hãm, phá hủy trong chiến tranh năm 1175 trước công nguyên, tại đây còn tìm thấy đầu mũi tên trên đường phố. Tuy nhiên quy mô thành phố thứ 7 lại nhỏ hơn nhiều so với hình tượng trong sử thi của Homer.\

Thác Duden
Dòng nước trong vắt của sông Duden kết hợp với địa hình độc đáo của núi đồi, cỏ cây xanh mướt, nắng vàng rực rỡ, đã tạo nên sự hấp dẫn cho quần thể thác nước Duden. Quần thể thác nước Duden gồm hai thác thượng và hạ, được xem là một trong những dòng thác đẹp và kỳ vĩ của thế giới. Thác Duden thuộc quận Muratpaşa, thành phố Antalya, tỉnh Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ, cách trung tâm thành phố khoảng 10km.
Thác Duden thượng cao 15m, rộng 20m, tọa lạc trong một thung lũng rất đẹp, bao quanh là cánh rừng nguyên sinh xanh mướt, có hệ thực vật phong phú. Màu xanh của cỏ cây kết hợp với địa hình độc đáo, sự phản chiếu của ánh mặt trời rực rỡ, tạo nên một khung cảnh thơ mộng, đẹp như tranh cho dòng thác Duden thượng. Khi đi qua cây cầu bắc ngang dòng sông Duden về phía thác nước, nhiệt độ giảm dần rõ rệt, bao trùm cả không gian lúc này là làn hơi nước mát rượi.
Men theo con đường bê tông được rào chắn hai bên, du khách sẽ đến một hang động ẩn sau dòng nước cuồn cuộn. Từ bên trong hang, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp thác Duden thượng dưới một góc khác. Rải rác quanh bãi cỏ, bên thác nước, bờ sông có rất nhiều bàn ghế xinh xắn dành cho du khách nghỉ ngơi, ăn uống.
Dòng chảy của con sông Duden hướng thẳng về phía biển Địa Trung Hải. Khi dòng nước ồ ạt chảy xuyên rừng đụng phải vách đá cheo leo ven bờ thành phố Antalya, tràn ra biển lớn, tạo thành dòng thác Duden hạ đẹp hiếm có. 

Phố cổ Kaleici
Điểm đến nổi tiếng của “thủ đô du lịch” Antalya là phố cổ Kaleici đẹp tựa tranh vẽ với những con đường uốn lượn, những căn nhà nhỏ xinh, di tích ngàn năm… Kaleici nghĩa là “bên trong pháo đài”. Khu phố cổ này mang nét đặc trưng của kiến trúc Ottoman với những công trình có từ thế kỷ thứ 2. Phố cổ Kaleici nay thuộc quận Muratpaşa, tọa lạc ngay trung tâm thành phố Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ.
Có nhiều lối vào phố cổ Kaleici, án ngữ ở hướng Đông Bắc là cổng chào Hadrian mang dáng dấp một khải hoàn môn kiểu La Mã. Cổng này dựng từ năm 130, bằng đá cẩm thạch, cao khoảng 5m, trang trí hoa văn tinh xảo. Bốn chân cột đá đỡ 3 vòm cổng đã trải qua nhiều đợt trùng tu, nền được bảo vệ bởi một lớp kính dày. Những thức cột Ionic được tạc mới và bổ sung vào năm 1959. Tên cổng được đặt tên theo hoàng đế thứ 14 của Đế quốc La Mã, Publius Aelius Hadrianus.
Bên trong phố cổ, những con đường lát đá quanh co, dốc lên dốc xuống, hai bên là những cửa hàng bày bán các món đồ thủ công mỹ nghệ độc đáo, đủ màu sắc. Các ngôi nhà ở đây được xây dựng vuông vức, chiều cao không quá hai tầng, và tầng trên luôn nhô ra phía trước để tận dụng khoảng không. Trải khắp phố cổ là các công trình kiến trúc mang phong cách kiến trúc Ottoman đặc trưng trường tồn suốt ngàn năm qua. Nằm trên một vách đá soi mình xuống mặt biển màu ngọc lam, thánh đường Hồi giáo Yivli xây từ thế kỷ 13 với ngọn tháp Minaret cao chót vót, trang trí gạch xanh, tựa như cột mốc của phố cổ Kaleici. 
Thánh đường Kesik Minare khởi thủy là một đền thờ Hồi giáo có từ thế kỷ thứ 2, nhưng đã bị sập vào thế kỷ thứ 6 và được xây thành nhà thờ Thiên Chúa giáo. Đến năm 1361, nhà thờ sửa thành thánh đường Hồi giáo. Sau đó tiếp tục trở lại là ngôi nhà của Chúa cho đến thế kỷ 15, hoàng tử Konut đổi thành thánh đường Hồi giáo và lấy tên mình đặt cho thánh đường. Năm 1896, trận hỏa hoạn đã tàn phá thánh đường. Nay là thánh đường Hồi giáo với những khối đá ngàn năm tuổi như một minh chứng lịch sử.
Phố cổ Kaleici còn có những dấu tích cổ xưa khác như tháp đồng hồ, tháp Hidirlik của người La Mã xây từ thế kỷ thứ 2. Nhiều tranh cãi quanh tòa tháp cao 14m này vẫn chưa đến hồi kết, có thể đây là lăng mộ không sử dụng của một lãnh chúa, cũng có thể là một hải đăng hoặc tháp canh. Ở phía Nam phố cổ có một quảng trường lớn trưng bày nhiều bức tượng kỳ thú. Từ đây có thể bao quát toàn cảnh bến cảng có từ thời La Mã ở phía Tây Bắc phố cổ. Bến cảng nay là bến thuyền rực sỡ sắc màu với vô số du thuyền sang trọng, đầy đủ tiện nghi, phục vụ nhu cầu ẩm thực và ngoạn cảnh.

TRAVELSHOPTURKEY

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét